CỔNG THÔNG TIN SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG
nông nghiệp an giang
Điểm tin thị trường

Tin thị trường ngày 17/7/2019

09:00 17/07/2019

Giá cá tra giảm mạnh, người nuôi lỗ kép - Vịt thương phẩm tăng giá - Giá tôm nguyên liệu giảm mạnh - Xuất khẩu khoai mì giảm mạnh - Nông dân lãi lớn nhờ thanh long chính vụ được giá

 

Giá cá tra giảm mạnh, người nuôi lỗ kép  (17/07/2019)

Từ đầu năm đến nay, giá cá tra lại bị tuột dốc, người dân nuôi cá tra thương phẩm tại ĐBSCL đang phải đối mặt với nguy cơ lỗ vốn kép.

Bởi thị trường xuất khẩu cá tra gặp khó khăn; Doanh nghiệp chế biến thu mua giảm. Bên cạnh đó, người nuôi cá lại phải đối mặt với tình trạng cá giống không đảm bảo chất lượng, tỷ lệ hao hụt cao... Nên người nuôi phải trắng tay là điều khó tránh khỏi. Mặc dù, thời gian qua các bộ, ngành, địa phương đã có nhiều giải pháp để ngành cá tra phát triển bền vững, tuy nhiên kịch bản này lại lặp lại như cách đây 2 năm trở về trước.

Theo các hộ dân nuôi cá tra thương phẩm tại tỉnh An Giang, một trong những địa phương đứng đầu về xuất khẩu cá tra tại ĐBSCL, từ đầu năm đến nay, giá cá tra liên tục giảm, hiện giá cá tra chỉ còn 19.000 đồng/1kg. Đây cũng là mức giá thấp nhất trong 10 năm qua; doanh nghiệp chế biến xuất khẩu không chỉ thu mua với mức giá rất thấp, mà thu mua với số lượng rất ít, thậm chí có những doanh nghiệp dừng thu mua.

Bên cạnh đó, người nuôi cá còn phải đối mặt với tình trạng nguồn cá giống không đảm bảo chất lượng. Chia sẻ về vấn đề này, ông Cao Lương Tri, nông dân nuôi cá tra ở xã Mỹ Hòa Hưng, TP Long Xuyên, tỉnh An Giang cho biết, do nguồn giống kém chất lượng, khi nuôi cá chết nhiều, tỷ lệ nuôi sống chỉ đạt 40%. Chi phí cho 1kg cá tra thương phẩm hiện nay từ 24 ngàn đến 25 ngàn đồng. Với giá bán như hiện nay, người nuôi lỗ khoảng 4.000 đến 5.000 đồng/kg.

Ông Tri cho biết thêm: “Cá giống hiện nay có 3 bệnh hay chết: Đầu tiên là bệnh gan thận mủ, bệnh này là bị quanh năm, nếu dùng thuốc thì phải phát hiện sớm, còn nếu không thì chỉ có cách cho cá nhịn đói, còn nếu dùng thuốc thì cá nó chết; Mùa này mùa nước thì con cá bị vàng, vàng cả thịt con cá luôn, tỷ lệ  chết cũng rất nhiều là bệnh thứ 2; còn bệnh thứ 3 là con cá bị phù đầu, tức là bệnh nhiễm trùng cả 3 bệnh này là cá chết.

Chưa có ai giám tổng kết, riêng tôi đã tổng kết nếu bị bệnh khi nuôi chỉ còn 3%, còn chết là 97%. Mấy ngày nay, toàn bộ các nhà máy đều ngưng mua hết; Hiện chỉ có một số mua đi Trung Quốc, mà đi theo đường tiểu ngạch thì họ mua, vì họ không có nhà máy, mà họ thuê nhà máy, cho nên cái giá hiện nay không phải là doanh nghiệp quyết định mà do những người này quyết định”.

Ông Dương Nghĩa Quốc, Chủ tịch Hiệp hội cá tra Việt Nam cho biết, hiện nay thị trường xuất khẩu gặp rất nhiều khó khăn; Đặc biệt là 2 thị trường truyền thống là Trung Quốc và Mỹ. Cùng với đó, rào cản kỹ thuật của một số nước làm ảnh hưởng đến xuất khẩu cá tra. Mặt khác, do cuối năm 2017 và năm 2018, giá cá tra tăng đột biến, nên diện tích nuôi ở các địa phương liên tục tăng...

Tính trong 6 tháng đầu năm nay, diện tích nuôi cá tra tại khu vực ĐBSCL đạt hơn 3.900 ha, tăng 8,9% so với cùng thời điểm năm 2018; Sản lượng ước đạt hơn 644 nghìn tấn, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Trước tình trạng này, doanh nghiệp ưu tiên sử dụng cá nguyên liệu từ vùng nuôi của mình, nên tình trạng cá nguyên liệu càng khó tiêu thụ.

Ông Dương Nghĩa Quốc chia sẻ: “Trước tình hình này, vấn đề đặt ra là để giảm áp lực xuất khẩu. Kiến nghị với Chính phủ,  Bộ Nông nghiệp, Bộ Công thương phải đẩy mạnh xúc tiến thương mại, thị trường lớn, thị trường truyền thống; chủ yếu là, thị trường Trung Quốc, Mỹ và các thị trường Đông Nam Á; Thậm trí bây bây giờ phải đẩy mạnh thị trường nội địa, thực ra thị trường nội địa có làm nhưng tiêu thụ rất ít, trong khi đó mình có 96 triệu dân mà lại bỏ.

Đó là cái trước mắt, còn lâu dài: Thứ nhất là thông tin về thị trường, cái thứ 2 là liên kết vùng, giữa vùng với các tỉnh, và về sản lượng thì đẩy mạnh cái chất lượng”.

Cũng theo ông Dương Nghĩa Quốc, để phát triển bền vững ngành cá tra, thời gian qua, các Bộ, ngành đã triển khai nhiều giải pháp: liên kết vùng, đề án xây dựng giống cá tra 3 cấp, xây dựng thương hiệu cá tra Việt Nam…

Tuy nhiên, trong thực tế việc triển khai thực hiện mới chỉ thể hiện trên văn bản. Mong rằng, Chính phủ, các bộ ngành liên quan cần quyết liệt, sớm thực hiện những giải pháp hữu hiệu, để ngành cá tra Việt Nam phát triển ổn định./.

Nguồn: VOV-ĐBSCL

 

 

Vịt thương phẩm tăng giá  (17/07/2019)

Hiện vịt thương phẩm tại khu vực ĐBSCL được thương lái thu mua với giá 46.000 đồng/kg, cao hơn tuần trước 3.000-4.000 đồng/kg.

Nhu cầu thịt vịt đang tăng cao do ảnh hưởng từ dịch tả lợn Châu Phi. Vịt siêu thịt CP được các thương lái thu mua tại chuồng giá 6.000 đồng/kg, vịt chạy đồng 42.000 - 43.000 đồng/kg. Với giá này người chăn nuôi lãi khá.

Anh Sơn, một thương lái chuyên thu mua vịt ở ĐBSCL cho biết: “Mỗi ngày tôi thu mua khoảng 50-100 con, phân phối cho các bạn hàng ngoài chợ, điểm quay vịt, quán ăn… Giá vịt hiện tại tăng so với tuần rồi nhưng vẫn chưa cao bằng tháng 2/2019, trên 50.000 đồng/kg".

Mô hình nuôi vịt trên cạn có nhiều ưu điểm như nhanh xuất bán, bán được giá cao. Đặc biệt không tốn nhiều diện tích và sử dụng ít nước. Nhiều địa phương ở ĐBSCL đã phát triển nghề nuôi gia cầm thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong đó, nuôi vịt cạn được người chăn nuôi chú ý quan tâm.

Với mô hình chăn nuôi khoảng 500 con vịt. Sau khoảng 50 ngày nuôi có thể lãi từ 10-15 triệu đồng tùy vào kỹ thuật nuôi và giá cả lúc xuất bán.

Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam

 

 

Giá tôm nguyên liệu giảm mạnh  (16/07/2019)

Tình hình xuất khẩu thủy sản gặp những khó khăn, dẫn đến tồn đọng, giá một số mặt hàng thủy sản giảm mạnh.

Thời gian gần đây do Trung Quốc thắt chặt xuất khẩu một số mặt hàng thủy sản qua đường tiểu ngạch, dẫn đến giá cả mặt hàng trên bị giảm do tiêu thụ không được.

Cụ thể, giá tôm sú nguyên liệu loại 20 con/kg từ 250.000 - 260.000 đồng/kg (giảm 70.000 đồng/kg so cùng kỳ); loại 30 con/kg: 180.000 - 190.000đồng/kg (giảm 70.000đồng/kg so cùng kỳ); Tôm sú loại 40 con/kg: 150.000 - 160.000đồng/kg (giảm 20.000đồng/kg so cùng).

Riêng tôm thẻ chân trắng loại 100 con/kg từ 92.000 - 95.000 đồng/kg (tăng 8.000 - 10.000 đồng/kg so cùng kỳ).

Hiện tại, toàn tỉnh Cà Mau có 302.000 ha nuôi trồng thủy sản, trong đó diện tích nuôi tôm 280.000 ha. Diện tích ao nuôi tôm công nghiệp đạt 9.473,1 ha, bằng 88,6% kế hoạch, giảm 1,5% so cùng kỳ.

Trong đó, diện tích nuôi tôm siêu thâm canh trên 2.251 ha, đạt 97,9% so kế hoạch, tăng 29,6% so cùng kỳ); diện tích đang nuôi đạt 51,6%. Diện tích nuôi tôm quảng canh cải tiến đạt gần 135.100 ha, tăng 19,3% so cùng kỳ, bằng 99% kế hoạch; trong đó, diện tích đang thả nuôi đạt 96%.

Tôm nguyên liệu giảm, người nuôi tôm còn phải đối mặt với dịch bệnh trong thời gian qua, hiện diện tích nuôi tôm công nghiệp cũng bị ảnh hưởng năng suất do bệnh, theo số liệu thống kê hiện có 85,6 ha diện tích nuôi tôm bị n hiễm bệnh. Trong đó, tôm quảng canh, quảng canh cải tiến có 4.879,8 ha bị nhiễm bệnh, mức độ thiệt hại khoảng 30 - 50% diện tích tôm nuôi. Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do môi trường tác động.

Do giá tôm nguyên liệu giảm mạnh, nên nhiều doanh nghiệp cũng như người nuôi tôm lo sợ giá tôm nguyên liệu sẽ giảm, nên e ngại mở rộng diện tích thả nuôi vì sợ thua lỗ.

Theo ngành Nông nghiệp tỉnh Cà Mau cho biết, tổng sản lượng thủy sản ước đến hết tháng 6 năm 2019 đạt 286.500 tấn, tăng 4,1% so cùng kỳ, đạt 51,2% kế hoạch. Trong đó sản lượng tôm ước đạt 93.350 tấn; tăng 6,7% so cùng kỳ, đạt 44,8% kế hoạch.

Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam

 

 

Xuất khẩu khoai mì giảm mạnh  (16/07/2019)

Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, xuất khẩu khoai mì và sản phẩm khoai mì trong tháng 6/2019 ước 131 nghìn tấn với giá trị 51 triệu USD. Lũy kế 6 tháng đầu năm, xuất khẩu khoai mì và các sản phẩm từ khoai mì đạt 1,2 triệu tấn và 460 triệu USD, giảm 19% về lượng và giảm 15,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.

Khoai mì và các sản phẩm từ khoai mì xuất khẩu tiếp tục giữ xu hướng giảm giá do nhu cầu của thị trường chính là Trung Quốc tiếp tục chững lại.

Giá xuất khẩu khoai mì và sản phẩm khoai mì bình quân tháng 6/2019 của Việt Nam đạt 386,3 USD/tấn, giảm 2,91% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, giá xuất khẩu bình quân tinh bột khoai mì giảm nhẹ, đạt 425 USD/tấn, giảm 1,7% so với tháng trước nhưng giảm 15,2% so với cùng kì năm 2018.

Trung Quốc vẫn tiếp tục là thị trường lớn nhất của sản phẩm khoai mì Việt Nam trong những tháng đầu năm, chiếm tới 89,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm này, kế đến là Hàn Quốc và các nước Đông Nam Á. Nhưng, xuất khẩu khoai mì sang Trung Quốc đã giảm 16,4% về lượng và giảm 3,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018; và giảm mạnh trên cả hai kênh xuất khẩu chính ngạch và biên mậu.

Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản nêu lên nhiều nguyên nhân khiến xuất khẩu khoai mì vào Trung Quốc sụt giảm mạnh.

Một là, từ năm 2018 đến nay, Trung Quốc vẫn tiếp tục áp dụng chính sách duy trì sản lượng dự trữ ngô ở mức thấp thông qua đấu giá định kỳ. Cơ quan dự trữ ngũ cốc quốc gia của Trung Quốc (Sinograin) thông báo rằng đã giảm được 100 triệu tấn ngô trong năm 2018, khiến giá ngô trở nên cạnh tranh hơn và dẫn tới sụt giảm các sản phẩm thay thế ngô, đặc biệt là khoai mì lát.

Theo số liệu thống kê của Cơ quan Hải quan Trung Quốc, năm 2018, Trung Quốc nhập khẩu 4,8 triệu tấn khoai mì lát, trị giá 1,13 tỷ USD, giảm 41% về lượng và giảm 22% về trị giá so với năm 2017.

Hai là, từ đầu năm 2019 đến nay, Trung Quốc đã tăng cường kiểm soát nghiêm ngặt các quy định về nhãn mác, bao bì, thông tin sản phẩm tinh bột khoai mì Việt Nam và siết chặt nhập khẩu qua kênh biên mậu.

Ba là, để giảm áp lực thuế quan đối với xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ, Trung Quốc đang áp dụng chính sách giảm giá đồng nhân dân tệ, gây bất lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu khoai mì qua kênh biên mậu.

Bốn là, các nhà nhập khẩu từ Trung Quốc tăng nhập khẩu khoai mì chính ngạch từ Thái Lan. Thời gian gần đây, nhiều doanh nghiệp Thái Lan đã giảm giá xuất khẩu khoai mì vào Trung Quốc để giành giật thị trường khoai mì Việt. Hiệp hội Thương mại khoai mì Thái Lan công bố giá sàn khoai mì lát xuất khẩu hiện ở mức 215 USD/tấn FOB Bangkok, giá tinh bột khoai mì xuất khẩu ở mức 450 – 455 USD/tấn FOB Bangkok, giảm 10 USD/tấn so với cuối tháng 4/2019.

Theo thông tin tổng hợp của Hiệp hội Khoai mì Việt Nam, hiện nay đang trong thời điểm nắng nóng, và là thời điểm khoai mì cuối vụ 2018 – 2019, các nhà máy chủ yếu đã dừng sản xuất. Bên cạnh đó, nhu cầu sử dụng tinh bột khoai mì cho sản xuất thực phẩm tại Trung Quốc giảm mạnh, trong khi lượng tồn kho của các nhà máy Việt Nam vụ 2018 - 2019 không còn nhiều.

Nguồn cung và chất lượng khoai mì củ tươi giảm mạnh nên hầu hết các nhà máy chế biến tinh bột khoai mì đã tạm ngưng sản xuất khiến nguồn cung tinh bột khoai mì xuất khẩu khan hiếm. Bên cạnh đó, giá xuất khẩu đang giảm mạnh nên doanh nghiệp cũng có xu hướng gom hàng, tạm ngưng xuất khẩu.

Dự báo, trong thời gian tới, các giao dịch xuất khẩu khoai mì và sản phẩm từ khoai mì vẫn tiếp tục ảm đạm do nhu cầu từ phía Trung Quốc yếu, nhu cầu tiêu thụ thực phẩm của Trung Quốc cũng đang trong mùa thấp điểm nên xuất khẩu tinh bột khoai mì dự đoán sẽ vẫn trầm lắng.

Tuy vậy, vẫn le lói hy vọng về nhu cầu tiêu thụ khoai mì lát của Trung Quốc được dự đoán có thể tăng trở lại sau khi Trung Quốc tăng thuế nhập khẩu lên 25% với gói hàng hóa trị giá 60 tỷ USD của Mỹ khiến nguồn cung nhập khẩu giảm...

Trong vòng 10 năm trở lại đây, cây khoai mì phát triển mạnh, được trồng rộng rãi từ Bắc tới Nam với tổng diện tích lên tới 560.000ha, được Bộ Công Thương đưa vào danh mục các mặt hàng xuất khẩu trên 1 tỷ USD.

Hiện, khối lượng khoai mì và sản phẩm khoai mì xuất khẩu hàng năm của Việt Nam đang chiếm 27,3% tổng thương mại khoai mì trên toàn cầu. Điểm đáng mừng là thị trường xuất khẩu khoai mì ngày càng được mở rộng, hiện đã XK đến hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Tuy nhiên, xuất khẩu khoai mì vẫn đang lệ thuộc vào thị trường Trung Quốc, khi 80-90% tổng khối lượng khoai mì xuất khẩu của Việt Nam là bán sang thị trường này. Các chuyên gia cho rằng, để đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu khoai mì trong thời gian tới, các doanh nghiệp Việt Nam cần tiếp tục tìm kiếm thêm thị trường mới ngoài thị trường Trung Quốc nhằm hạn chế sự phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc trong tình trạng bị ép giá.

Để nâng cao chất lượng sản phẩm, Hiệp hội Khoai mì Việt Nam đã yêu cầu các nhà máy quy mô nhỏ, hộ gia đình phải thực hiện nghiêm các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm. Người nông dân và các doanh nghiệp phải thay đổi phương thức sản xuất, quản lý, tăng cường khâu chế biến sâu để gia tăng giá trị. Hiệp hội Khoai mì cũng đề nghị thống nhất chung quy ước ghi thông tin sản phẩm trên bao bì để thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát và thông quan hàng hóa tại 2 đầu cửa khẩu Việt Nam - Trung Quốc.

Nguồn: Vneconomy

 

 

Nông dân lãi lớn nhờ thanh long chính vụ được giá  (14/07/2019)

Một kg thanh long ruột trắng mua tại vườn đang ở mức trên 16.000 đồng, còn ruột đỏ quanh 35.000 - 40.000 đồng

Từ tháng 6 đến nay là thời điểm thanh long chính vụ đến ngày thu hoạch. Nếu các năm trước, giá thanh long giảm mạnh thì nay giá loại trái cây này quay đầu đi lên. Hiện, giá thu mua thanh long ở Bình Thuận ở mức 16.000 - 20.000 đồng một kg, tăng 3.000 đồng so với tuần trước đó và tăng 40% so với năm ngoái.

Anh Hòa, trồng 2 ha thanh long cho biết, thanh long chính vụ thường chỉ 8.000 đồng một kg là đã có lãi. Tuy nhiên, năm nay giá tăng vọt nên người dân lãi cao. Do đó, vụ năm nay gia đình nhà anh có thể thu lãi 350 triệu đồng.

Theo nông dân địa phương, mùa thanh long năm nay sản lượng ổn định. Đầu mùa giá còn đạt mức kỷ lục 30.000 đồng một kg. Nguyên nhân khiến giá luôn ở mức cao hơn so với mọi năm vì Trung Quốc tăng thu mua, song song đó, tỉnh mở rộng thị trường tiêu thụ đến một số thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Canada, Dubai, Nga... Mặt khác, nông dân Bình Thuận đang hướng đến trồng thanh long sạch để có thể xuất khẩu đến nhiều thị trường thế giới.

Cùng với thanh long ruột trắng, loại ruột đỏ ở khu vực chợ Gạo (Tiền Giang) được thu mua ở mức 30.000 - 40.000 đồng một kg. Khảo sát tại các chợ và siêu thị TP HCM cho thấy, thanh long ruột trắng được bán ra với giá 30.000 đồng, còn ruột đỏ ở mức 40.000 - 70.000 đồng một kg (tùy kích cỡ)

Tỉnh Bình Thuận hiện có khoảng 30.000 ha thanh long với sản lượng hơn 550.000 tấn một năm, tập trung nhiều tại các huyện: Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận Bắc, Hàm Tân và Bắc Bình. Còn Tiền Giang có khoảng 7.000 ha thanh long trồng chuyên canh, sản lượng gần 200.000 tấn một năm, đây được xem là loại cây trồng chủ lực của tỉnh này.

Nguồn: Vnexpress