CỔNG THÔNG TIN SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG
nông nghiệp an giang
Điểm tin thị trường

Tin thị trường ngày 24/10/2019

09:00 24/10/2019

Bí đỏ được mùa nhưng... rớt giá - Tôm hùm khan hàng, tăng giá - Xuất khẩu tôm sang EU giảm đột biến - Chuẩn bị nguồn hoa trái đón Tết Nguyên đán 2020 - Nhiều tiềm năng xuất khẩu rau, hoa, quả.

 

Bí đỏ được mùa nhưng... rớt giá  (24/10/2019)

Năm nay, thời tiết thuận lợi nên bí đỏ của nông dân thôn Tân Đức, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi được mùa, nhưng bị rớt giá, dao động chỉ 4.000 - 5.000 đồng/kg.

Hiện nay, nhiều nông dân trên địa bàn thôn Tân Đức, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đang bước vào chính vụ thu hoạch bí đỏ.

Ông Phạm Biên, Chủ tịch Hội Nông dân xã Bình Châu, cho biết: “Toàn thôn Tân Đức có hơn 100 hộ trồng bí đỏ trên các đồi núi với tổng diện tích khoảng 3ha. Năm nay, năng suất đạt 1 tấn/sào, nông dân được mùa nhưng giá cả bấp bênh, chỉ 4.000 - 5.000 đồng/kg”.

Từ trưa đến chiều, nông dân lại dắt lưỡi hái, chạy xe lên đồi phía sau làng để thu hoạch bí đỏ. Ông Đỗ Lưu (thôn Tân Đức, xã Bình Châu) nói: “Thời tiết thuận lợi, không mưa nhiều nên bí đỏ phát triển tốt, mỗi trái bí đỏ có trọng lượng từ 5-6kg/trái”.

Tương tự, ông Võ Văn Anh cũng trồng 5 sào, thu về 4 tấn. Ông cho biết: “Từ xưa, nông dân ở đây đã trồng bí đỏ, khi thu hoạch thì bán được cả chồi, hoa, lá, trái… nên vừa bán ở chợ, vừa bán cho thương lái”.

Ông Anh cho biết: “Năm ngoái giá bí đỏ chỉ có 5.000 đồng/kg, nhưng nhờ hỗ trợ thu mua nên mới bán được với giá 6.000 đồng/kg. Năm nay giá đang bấp bênh, nông dân mong muốn bán hết để xuống vụ nên giá chỉ cần không xuống nữa là lấy công làm lời”.

Cũng theo ông Anh, giá cao nhất của bí đỏ khi được giá là 7.000 - 8.000 đồng/kg, thậm chí 10.000 đồng/kg, thế nhưng năm nay giá thấp nên nhiều nông dân lo lắng. Một số nông dân chấp nhận bán theo trái, mỗi trái khoảng 10.000 đồng, tùy trọng lượng. Bình quân nông dân thu về 6-7 triệu/sào khi bán trọn từ trái, chồi, hoa, lá bí đỏ.

Ông Nguyễn Tấn Sỹ cũng trồng 2 sào thu về 2 tấn bí đó, cũng cho biết: "Năm nay được mùa nhưng giá cả bấp bênh nên nông dân rất lo lắng. So với mấy năm thì giá còn quá rẻ".

Nguồn: Báo Sài Gòn giải phóng

 

 

Tôm hùm khan hàng, tăng giá  (24/10/2019)

Sau một thời gian đi xuống, hiện giá tôm hùm thương phẩm tăng mạnh trở lại.

Anh Hòa, người nuôi tôm ở Cam Bình cho biết, mức giá tôm hùm xanh đã tăng thêm 200.000 đồng lên 750.000 đồng một kg. Gia đình anh đã thoát khỏi cảnh lỗ nặng như tháng trước đó. Tuy nhiên, vì chi phí lứa tôm này tăng cao do giá con giống "leo thang" nên vựa nhà anh chưa có lời.

Cũng xác nhận giá tôm đã tăng trở lại, ông Nguyễn Ân, Chủ tịch UBND xã Cam Bình cho hay tôm hùm thương phẩm các loại trên địa bàn đã tăng 100.000 - 300.000 mỗi kg đồng so với hơn một tháng trước.

Cụ thể, mức giá tôm hùm xanh giao động 700.000 - 750.000 đồng một kg, tăng 200.000 đồng so với giá trước đó. Còn tôm hùm sao (bông) tăng thêm 300.000 đồng lên mức 1,3 - 1,5 triệu một kg.

Theo ông Ân, nguyên nhân khiến giá tôm hùm tăng là do nguồn cung giảm. Trong khi đó, dịp Tết dương lịch và Nguyên đán 2020 đang tới gần nên nhu cầu tăng cao. Song song đó, chi phí thức ăn và con giống tăng cao đã đẩy giá tôm thương phẩm tăng lên. Ông Ân dự báo, thời gian tới giá tôm còn tăng cao vì nhu cầu lễ, tết lớn.

Báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Khánh hòa cho biết, giá bán tôm hùm bông sống tại đây cho loại 400 gram một con 1,2 triệu đồng một kg, loại 0,7-1 kg có giá 1,55 triệu đồng. Riêng loại có trọng lượng trên 1 kg có giá 1,650 triệu đồng một kg.

Hiện, toàn tỉnh Khánh Hòa thả nuôi tôm hùm trên 49.000 lồng, trong đó xã Cam Bình khoảng 10.000 lồng. Ngoài tôm hùm được nuôi nhiều ở Khánh Hòa thì còn có nhiều ở các tỉnh Phú Yên, Quảng Ngãi..., nguồn giống chủ yếu khai thác từ tự nhiên và nhập khẩu. Công nghệ nuôi tôm hùm ở Việt Nam vẫn áp dụng theo kiểu truyền thống, quy mô nhỏ, thức ăn sử dụng chủ yếu là cá tạp, cua, sò...

Theo Tổng cục Thủy sản, số lồng nuôi tôm hùm liên tục tăng. Năm 2010, cả nước có hơn 49.000 lồng, đến 2018 tăng lên khoảng 90.000 lồng, sản lượng ước đạt 1.600 tấn.

Hồi cuối tháng 7, thị trường Trung Quốc ngưng mua khiến giá tôm giảm mạnh. Theo đó, tôm hùm xanh tại hộ nuôi lúc đó chỉ 400.000 - 550.000 đồng một kg; tôm hùm bông 1 - 1,1 triệu đồng một kg (loại 1).

Nguồn: Vnexpress

 

 

Xuất khẩu tôm sang EU giảm đột biến  (24/10/2019)

9 tháng xuất khẩu tôm sang thị trường EU giảm 23%, mạnh nhất trong top 5 thị trường xuất khẩu của Việt Nam.

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), 9 tháng đầu năm nay, xuất khẩu tôm đạt 2,4 tỷ USD, giảm 7% so với cùng kỳ năm ngoái. Nguyên nhân là do giá tôm nguyên liệu giảm, trong khi lượng tồn kho tôm tại các thị trường cao, nguồn cung tôm từ các nước khác cũng tăng khiến giá tôm nhập tại các thị trường hạ thấp hơn so với năm ngoái, do vậy xuất khẩu tôm tiếp tục xu hướng sụt giảm từ năm 2018.

EU là thị trường giảm mạnh nhất. Tháng 9, xuất khẩu tôm sang thị trường này đạt hơn 61 triệu USD, giảm 23% so với cùng kỳ 2018. Trong 3 thị trường nhập khẩu chính tôm Việt Nam trong khối EU, Anh và Hà Lan giảm 2 con số, lần lượt 37% và 32%, còn xuất sang Đức giảm 9%. Lũy kế 9 tháng đầu năm nay, xuất khẩu tôm sang EU đạt 513,4 triệu USD, giảm 20,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Giá trung bình nhập tôm của các thị trường này đều giảm 1 USD một kg so với năm 2018.

EU chiếm khoảng 31% tổng nhập tôm thế giới và chiếm 21% xuất khẩu tôm của Việt Nam. Nếu tận dụng tốt ưu đãi thuế quan từ Hiệp định EVFTA giữa Việt Nam và EU, áp dụng hiệu quả quy tắc xuất xứ, tôm Việt Nam sang EU sẽ có cơ hội gia tăng từ năm 2020.

Tại thị trường Mỹ, tôm xuất sang thị trường này đạt 476,9 triệu USD, tăng 1% so với cùng kỳ năm ngoái. Còn thị trường Nhật giảm 1,9% chỉ đạt 444,7 triệu USD trong 9 tháng. Riêng thị trường Trung Quốc, xuất khẩu tôm có dấu hiệu khả quan tăng 7,2%, đạt 382,3 triệu USD trong 9 tháng đầu năm nay nhờ tăng trưởng dương liên tiếp từ tháng 7 đến tháng 9.

Nguồn: Vnexpress

 

 

Chuẩn bị nguồn hoa trái đón Tết Nguyên đán 2020  (23/10/2019)

Thời điểm này, các hộ trồng hoa kiểng ở các CLB khuyến nông, làng hoa kiểng… đang tất bật chuẩn bị nguồn hàng, đặc biệt là nguồn hoa, trái có tạo hình độc, lạ đón Tết Nguyên đán 2020.

30.000 giỏ hoa tết của chú Trần Văn Tiếp (xã Tân Quy Đông, TP Sa Đéc- Đồng Tháp) đã có khách đặt trên 60%.

Năm ngoái, chú Tiếp đưa thành công 2.000 chậu dưa tí hon (dưa pepino) ra thị trường, vừa ăn trái vừa có thể chưng làm đẹp. Theo chú Tiếp, năm nay sẽ giới thiệu thêm giống mới độc, lạ: sả tím, cây tình yêu và lúa tím...

Theo một số hộ trồng hoa tại làng hoa Sa Đéc, năm nay, chi phí đầu vào tăng nên dự kiến hoa tăng 1.000- 3.000 đ/giỏ. Hiện các nhà vườn còn chuẩn bị nhiều loại kiểng quý như: me chua, gỗ lũa, khế sần, nguyệt quế, linh sam, khế cổ,...

Trong khi đó, theo ông Võ Trung Thành- Chủ nhiệm CLB Khuyến nông ấp Phú Trí A (xã Phú Tân, huyện Châu Thành- Hậu Giang), năm ngoái đã làm 300 trái bưởi “thỏi vàng nén”. Năm nay CLB dự kiến cho ra thị trường thêm 10.000 trái bưởi hồ lô (tài- lộc, thỏi vàng, thư pháp) và 1.500 trái đào tiên.

Hiện bưởi đã được vô khuôn, kỳ vọng đạt được 80- 90%. Giá dự kiến khoảng 600.000- 2.400.000 đ/cặp, không chênh lệch nhiều so các năm trước. Các hộ trồng dưa hấu tạo hình thì cho biết, còn hơn 1 tháng nữa sẽ xuống giống (khoảng rằm tháng 10 âl). Dự kiến, giá dưa hấu thỏi vàng và dưa hấu hình chiếc xe khoảng 3.500.000 đ/cặp loại 1- không tăng so năm ngoái.

Nguồn: Báo Vĩnh Long

 

 

Nhiều tiềm năng xuất khẩu rau, hoa, quả  (22/10/2019)

Ngành rau, hoa quả Việt Nam đang có nhiều tiềm năng phát triển và mở rộng thị trường xuất khẩu sang khu vực Á – Âu. Nhưng để tận dụng được cơ hội đó cần nhanh chóng thay đổi phương thức sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường.

Đây là nhận định của các chuyên gia tại Hội thảo Xuất khẩu rau, hoa, quả những chuyển động mới từ thị trường Á – Âu do Công ty VEAS tổ chức tại TP Hồ Chí Minh, ngày 22-10.

Bà Đặng Thanh Phương - Phó Trưởng phòng, Vụ Thị trường châu Á - châu Phi, Bộ Công Thương cho biết, giai đoạn 2011 – 2018, rau quả là một trong những nhóm hàng xuất khẩu ổn định và có tốc độ tăng trưởng cao nhất của ngành nông nghiệp Việt Nam với mức tăng trưởng đạt 26,5%/năm. Riêng năm 2018, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt 3,8 tỷ USD, vượt qua các mặt hàng gạo, tiêu, chè để trở thành một trong những mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam, tạo động lực mới cho phát triển nông nghiệp nông thôn.

Mặt hàng rau quả của Việt Nam hiện đã xuất khẩu đến 55 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Ước tính, dung lượng tiêu thụ hàng rau quả  toàn thế giới mỗi năm đạt khoảng 240 tỷ USD, đây chính là cơ hội lớn để ngành rau hoa quả Việt Nam tiếp tục phát triển.

Về thị trường xuất khẩu, châu Á chiếm 85% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam; trong đó, đứng đầu là Trung Quốc, tiếp đến là Hàn Quốc, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á.

Theo bà Đặng Thanh Phương, xuất khẩu rau quả Việt Nam đến các thị trường châu Á sẽ tiếp tục tăng trưởng do quy mô thị trường và sức tiêu thụ lớn, thói quen tiêu dùng tương đồng, vị trí địa lý thuận lợi cho việc vận chuyển, mức thuế nhập khẩu hầu hết đều đã về 0% do thực thi các hiệp định thương mại tự do. Mặc dù vậy, xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang thị trường châu Á đang gặp thách thức lớn do sự thay đổi về chính sách nhập khẩu, đặc biệt là Trung Quốc.

Trong khi Nhật Bản, Hàn Quốc có quy định khắt khe về tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và quy trình đánh giá rủi ro phức tạp, kéo dài thì Trung Quốc cũng chuyển từ giao dịch biên mậu sang nhập khẩu chính ngạch, đồng thời áp dụng các chính sách thắt chặt kiểm soát chất lượng nông sản nhập khẩu.

Với thị trường châu Âu, ông Willem Schoustra - Tham tán nông nghiệp phụ trách Việt Nam và Thái Lan, Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam cho biết, nhu cầu tiêu dùng sản phẩm nông sản, rau quả của EU rất lớn. Việt nam có lợi thế sản xuất các loại rau củ nhiệt đới với chủng loại đa dạng, phong phú. Cộng với việc ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), nhiều sản phẩm nông sản Việt Nam mà điển hình là rau, hoa, quả sẽ được mở cửa để tiếp cận thị EU trường tốt hơn.

Tuy nhiên, thách thức mà nông sản Việt Nam nói chung, mặt hàng rau quả nói riêng đang đối mặt đó là đáp ứng tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm và truy xuất nguồn gốc bởi những quy định khắt khe của EU về chất lượng thực phẩm.

Cùng quan điểm, ông Lê Thanh Hòa, Phó Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phân tích, khác với thị trường ở châu Á, EU không cần thực hiện quy trình đánh giá rủi ro với các loại rau và hoa quả khi nhập khẩu nhưng quy định rất chặt chẽ về mức độ dư lượng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, vi sinh vật; thậm chí áp dụng các biện pháp hạn chế, cấm nhập khẩu khi phát hiện các mối nguy cụ thể.

Vì vậy, dù EVFTA đi vào thực thi, nông sản, rau quả Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về thuế nhưng chưa hẳn đã có thể gia tăng kim ngạch xuất khẩu vào EU.

Theo các chuyên gia, những năm tới, thị trường Á-Âu tiếp tục là khu vực xuất khẩu nông sản, rau, quả chủ yếu của Việt Nam. Trong bối cảnh đó, ngành rau quả phải nhanh chóng thay đổi phương thức sản xuất, nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thị trường.

Ông Lê Thanh Hòa cho rằng, muốn nâng cao chất lượng nông sản phải bắt đầu từ việc thay đổi tư duy, nhận thức về quản lý và giám sát an toàn thực phẩm theo chuỗi; trong đó, người sản xuất phải áp dụng các qui trình sản xuất tốt, đạt chứng nhận theo yêu cầu của thị trường và thực hành vệ sinh tốt trong quá trình thu hoạch, bao gói sản phẩm. Các doanh nghiệp thu mua, chế biến phải đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu hoặc liên kết chặt chẽ với nông dân để đảm bảo nguồn cung và giám sát việc truy suất nguồn gốc sản phẩm.

Mặt khác, cần xây dựng kênh trao đổi thông tin qui định về an toàn thực phẩm của thị trường giữa cơ quan quản lý và nhà sản xuất, xuất khẩu; thường xuyên cập nhật thông tin và thông báo đúng lúc, chính xác. Các cơ quan quản lý cần quy hoạch các vùng trồng, sản xuất hợp lý và giám sát các mối nguy ảnh hưởng đến chất lượng nông sản như vi sinh vật, sử dụng thước bảo vệ thực vật, hóa chất; đồng thời, xây dựng chiến lược xuất khẩu rau quả cho từng thị trường cụ thể để tận dụng tối đa các lợi thế gia tăng kim ngạch, giá trị xuất khẩu.

Bà Đặng Thanh Phương cho rằng, chất lượng nông sản Việt Nam chưa đồng đều và ổn định là do sản xuất manh mún, quy mô nhỏ lẻ, thiếu tiêu chuẩn cụ thể. Do đó, người sản xuất cần chuyển đổi phương thức sản xuất sang tập trung, quy mô lớn, áp dụng công nghệ cao nhằm cải thiện chất lượng nông sản.

Bên cạnh đó, người sản xuất cũng cần thay đổi tư duy “bán thứ mình có” sang “bán thứ thị trường cần” bằng cách chủ động nghiên cứu tìm hiểu nhu cầu, tiêu chuẩn mà thị trường yêu cầu; tập trung vào mặt hàng có giá trị gia tăng cao để nâng cao biên độ lợi nhuận và xây dựng thương hiệu cho nông sản Việt Nam.

Chuyên gia nước ngoài khuyến nghị, Việt Nam cần kiểm soát tốt việc sử dụng các loại hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là mặt hàng rau, quả, bởi đây là vấn đề chính mà nhiều lô hàng xuất khẩu của Việt Nam gặp phải thời gian qua. Với những thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc và EU, việc phát hiện sản phẩm không đạt chất lượng có thể dẫn đến biện pháp hạn chế xuất khẩu lâu dài, ảnh hưởng đến sự phát triển của toàn ngành sản xuất tại Việt Nam.

Cùng với việc hội nhập, nông nghiệp Việt Nam cũng cần nhanh chóng thích nghi bằng việc áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế hoặc tương đương; đáp ứng yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững để khai thác hiệu quả ưu đãi thuế quan vào việc thúc đẩy xuất khẩu những sản phẩm thế mạnh của mình.

Nguồn: Báo Tin Tức