CỔNG THÔNG TIN SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG
nông nghiệp an giang
Điểm tin thị trường

Tin thị trường ngày 27/03/2019

09:00 27/03/2019

Giá dứa giảm, nông dân khóc ròng - Khan hiếm nguyên liệu làm khô cá sặc bổi - Giá heo hơi tiếp tục phục hồi tại hai miền Bắc – Nam - Nhập khẩu tôm của Mỹ năm 2018 tăng 5% - Hình ảnh cá tra Việt xuất khẩu ngày càng được cải thiện.

 

Giá dứa giảm, nông dân khóc ròng  (27/03/2019)

Thấy được mùa, được giá... nông dân nhiều vùng lại ồ ạt mở rộng diện tích, phá vỡ quy hoạch. Kết quả, ngay sau đó họ phải ngậm trái đắng vì giá rớt thê thảm khi thu hoạch.

Được mùa, nông dân vẫn khóc ròng

Những ngày này, dù được mùa nhưng người dân tại một số xã của huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) lại đối diện với thua lỗ nặng do giá dứa giảm kỷ lục.

Theo người dân trồng dứa ở xã Tân Thắng, Quỳnh Thắng (Quỳnh Lưu), năm ngoái giá dứa bán trung bình được từ 7.000-9.000 đồng/kg, người dân phấn khởi vì được mùa được cả giá. Thế nhưng, năm nay mới đầu mùa giá loại quả chủ lực tại địa phương này lại rớt thê thảm. Dứa loại 1 chỉ bán được khoảng 3.000 đồng/kg, dứa loại 2 thì giá giảm còn 1.000-1.500 đồng/kg.

Anh Lê Văn Phú ở xã Tân Thắng, huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) than thở, gia đình anh trồng tổng cộng 2ha. Năm nay dứa chín sớm, giá lại xuống thấp, chỉ còn 3.000 đồng/kg. Bán hết 1ha mới được 40 triệu đồng như này thì gia đình anh lỗ nặng. Bởi, số tiền thu được không đủ tiền giống, phân bón và tiền công chăm sóc.

Cùng cảnh ngộ, ông Phú ở xã Tân Thắng cũng cho biết, năm trước gia đình ông thu được khoảng 500 triệu, năm nay giá xuống thấp nên ước tính 4ha dứa chỉ thu được 200 triệu đồng. Tính ra, ông lỗ khoảng 100 triệu đồng, đó là chưa kể công thuê mướn người chăm sóc.

Cuối tháng 2 đầu tháng 3 vừa qua, người nông dân trồng khoai lang ở huyện Phú Thiện (Gia Lai) cũng khóc ròng vì khoai lang đến vụ thu hoạch nhưng bí đầu ra. Theo đó, giá loại khoai đẹp giảm chỉ còn 5.000 đồng/kg, loại 2 giảm còn 1.500 đồng/kg.

Theo nhiều hộ dân ở huyện Phú Thiện, trung bình mỗi 1ha khoai lang Nhật đầu tư hết khoảng 50-70 triệu đồng, còn nếu đi thuê đất làm thì tiền đầu tư sẽ cao hơn nhiều.

Các năm trước, thời điểm giá cao bán được từ 10.000-15.000 đồng/kg khiến bà con ai cũng phấn khởi. Bởi, trồng khoai lang thu lời gấp 3-4 lần trồng lúa. Thế nhưng năm nay không thấy thương lái tìm đến mua, cả xã Chư A Thai mới có 3-4 hộ bán được khoai nhờ “mời tiểu thương” ở chợ đến lấy hàng bán lẻ.

Để giải quyết tình trạng khó khăn cho bà con trồng khoai lang, các cuộc giải cứu lại diễn ra khắp các thành phố, nhất là ở TP.Hà Nội và TP.HCM.

Thê thảm nhất là mặt hàng tiêu - loại cây được ví như “vàng đen” nhưng thời gian gần đây giá liên tục giảm sâu khiến người nông dân ở Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Gia Lai,... thua lỗ nặng, tiêu chín đỏ trên cây mà các nhà vườn không thèm thu hái.

Đáng chú ý, tại huyện Chư Sê - nơi từng được mệnh danh là thủ phủ hồ tiêu của Gia Lai - nay đã biến thành những “nghĩa địa tiêu” trên vùng đất đỏ. Các tỷ phú tiêu một thời giờ tha hương cầu thực nơi đất khách. Giá tiêu sụt giảm chạm đáy khiến đời sống của người dân lâm vào cảnh bế tắc, ngập trong đống nợ.

Ồ ạt mở rộng diện tích khiến cung vượt cầu

Cơ quan chức năng cho biết, nhiều mặt hàng giảm giá kỷ lục nguyên dân là do người dân ồ ạt mở rộng diện tích khiến cung vượt cầu.

Về việc giá tiêu đang giảm chạm đáy, ông Nguyễn Nam Hải - Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), cho biết, năm 2013 và 2014 giá tiêu lên cơn sốt, tăng vót lên mức 230.000 đồng/kg. Khi giá tiêu lên đến đỉnh điểm, nông dân ở các địa phương mở rộng diện tích trồng. Thậm chí, tiêu còn được trồng ở cả những diện tích không đủ điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu với hy vọng đạt được giá trị cao.

Năm 2013, tại Việt Nam, diện tích trồng tiêu chỉ trên 53.000 ha. Tuy nhiên, sau 5 năm, đến 2018, diện tích trồng tiêu cả nước là 152.000 ha, tăng gấp 3 lần. Đơn cử theo quy hoạch đến năm 2020, diện tích hồ tiêu Gia Lai là 6.000 ha. Song, số liệu từ “Niên giám thống kê Gia Lai” cho thấy, đến cuối năm 2017, con số này đã lên tới 17.750 ha, vượt xa quy hoạch ban đầu.

Hậu quả của việc ồ ạt mở rộng diện tích là cung vượt cầu, giá giảm mạnh. Từ mức giá đạt đỉnh 230.000 đồng/kg năm 2013 đến nay giá mặt hàng này đã giảm xuống chỉ còn trên dưới 45.000 đồng/kg. Đây là mức thấp nhất trong khoảng 10 năm trở lại đây, thấp hơn giá thành mà người nông dân làm ra là 50.000 đồng/kg.

Trên báo Dân Việt, ông Phan Tiến Dũng - Chủ tịch UBND xã Tân Thắng - cho biết, nguyên dân giá dứa giảm dịp này là do nông dân trong vùng ồ ạt mở rộng diện tích khiến cung vượt cầu.

Theo ông, diện tích dứa trên địa bàn xã hiện lên tới hơn 700ha. Năm ngoái dứa được mùa, nhưng không rớt giá nên bà con phấn khởi. UBND xã đã có khuyến cáo người dân không nên mở rộng diện tích trồng dứa, tránh cung vượt cầu nhưng người dân vẫn mạnh ai người đó trồng.

Ông Vũ Lê Hùng - Chủ tịch UBND xã Quỳnh Vinh, cũng thừa nhận, do dứa năm ngoái được giá, người trồng rất phấn khởi nên ồ ạt mở rộng diện tích, bất chấp khuyến cáo của chính quyền địa phương. “Thời gian tới, khi thu hoạch xong chúng tôi sẽ chủ trương ổn định diện tích dứa, không mở rộng thêm để tránh tình trạng được mùa mất giá, nông dân thua lỗ", ông nói.

Trước đó, một lãnh đạo ngành trồng trọt cũng cho hay, mỗi tỉnh đều có một thế mạnh cây trồng riêng và cơ cấu diện tích đã được quy hoạch khá cụ thể để định hướng cho bà con nông dân. Thế nhưng, bao nhiêu lâu nay, bà cong nông dân ở nhiều vùng sản xuất cứ thấy được mùa được giá là lại ồ ạt mở rộng diện tích.

Kết quả, đến vụ thu hoạch sau, thay vì niềm vui được mùa thì người nông dân lại ngậm đắng nuốt cay vì nguồn cung dư thừa, giá giảm mạnh khiến họ chịu cảnh thua lỗ.

Đây cũng là một phần nguyên nhân những năm gần đây liên tục có những cuộc giải cứu nông sản bởi cung tăng nhưng cầu không tăng, vị này cho hay.

Nguồn: Vietnamnet.vn

 

 

Khan hiếm nguyên liệu làm khô cá sặc bổi  (27/03/2019)

Hiện nay, các làng sản xuất khô cá sặc bổi (từ Cà Mau đến An Giang) đều rơi vào cảnh khan hiếm cá nguyên liệu. Cụ thể, cuối tháng 12-2018, giá cá sặc bổi nguyên liệu ở mức 65.000 đồng/kg. Đến đầu tháng 2-2019, tăng lên 75.000 đồng/kg và hiện vượt ngưỡng 83.000 đồng/kg.Điều này khiến các cơ sở chế biến khô đang trong tình trạng khó khăn.

Nguyên nhân do thời gian qua, giá cá tra ở mức cao, có thời điểm lên đến 36.000 đồng/kg, nhiều hộ nuôi cá sặc bổi chuyển sang nuôi cá tra, số hộ thả nuôi cá sặc bổi ít đi. Hiện, bình quân mỗi ngày, các làng chế biến khô cá sặc bổi cần đến 300 tấn cá nguyên liệu phục vụ chế biến khô, nhưng thu gom trong dân chỉ đáp ứng được khoảng 1/3 nhu cầu.

Nguồn: Tin tức Miền Tây

 

 

Giá heo hơi tiếp tục phục hồi tại hai miền Bắc – Nam  (27/03/2019)

Giá heo hơi hôm nay duy trì phục hồi khoảng 1.000 - 2.000 đồng/kg tại một số tỉnh miền Bắc và miền Nam. Trong khi, khu vực miền Trung, Tây Nguyên vẫn lặng sóng.

Giá heo hơi hôm nay tại miền Bắc tiếp tục phục hồi

Theo đó, giá heo hơi Lào Cai tăng tới 2.000 đồng/kg lên 40.000 đồng; Thái Nguyên tăng ít hơn, khoảng 1.000 đồng/kg, lên 39.000 đồng. Tại Phú Thọ, giá heo có nơi trở lại ngưỡng 37.000 đồng/kg.

Giá heo hơi tại Vĩnh Phúc, Hà Nội, Ninh Bình, Yên Bái báo vẫn ở mức 35.000 - 36.000 đồng/kg; Hà Nam đạt 37.000 - 38.000 đồng.

Nhìn chung, một vài ngày trở lại đây, tình hình giá heo hơi tại khu vực đã có chuyển biến tích cực.

Về diễn biến dịch tả heo châu Phi (ASF), ngày 25/3, dịch bệnh được phát hiện trên đàn heo nuôi hộ gia đình của ông Nguyễn Vĩnh Vượng, ở thôn 8, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất (Hà Nội).

Đến ngày 26/3, virus ASF tiếp tục được tìm thấy trên đàn heo của hai hộ gia đình liền kề. Để đối phó với sự lây lan của dịch bệnh, huyện Thạch Thất đã kịp thời tiêu hủy 26 con heo mắc bệnh, đồng thời, tổ chức khử trùng, tiêu độc khu vực xảy ra bệnh dịch, lập hai chốt kiểm dịch ...

Phó Chủ tịch UBND huyện Thạch Thất Nguyễn Kim Loan cho biết, trên địa bàn huyện có 5.709 hộ, cơ sở chăn nuôi heo; trong đó có 5.661 hộ chăn nuôi nhỏ lẻ trong khu dân cư, 41 trang trại chăn nuôi, 7 trang trại chăn nuôi gia công, với tổng số đàn heo gồm 97.164 con...

Tại Việt Nam, dịch ASF chủ yếu bùng phát tại các trại nuôi heo qui mô nhỏ, lẻ với hệ thống an ninh sinh học kém.

Giá heo hơi hôm nay tại miền Trung, Tây Nguyên không có nhiều biến động

Giá heo hơi tại khu vực vẫn dao động trong khoảng 31.000 - 42.000 đồng/kg. Trong đó, các tỉnh có giá trên 40.000 đồng/kg nằm rải rác tại khu vực Nam Trung Bộ; còn mức giá khoảng 31.000 - 38.000 đồng/kg, được ghi nhận phổ biến tại các tỉnh Bắc Trung Bộ.

Khu vực Tây Nguyên, giá heo hơi cũng không thay đổi, dao động trong khoảng 39.000 - 40.000 đồng/kg.

Giá heo hơi hôm nay tại miền Nam cũng tăng nhẹ

Với lượng heo tại chợ đầu mối có xu hướng về ít hơn, giá heo hơi tại khu vực cũng dần khởi sắc. Cụ thể, tại thủ phủ nuôi heo Đồng Nai, giá heo hơi tăng nhẹ 500 đồng lên 39.000 - 40.000 đồng/kg. Tại Gia Kiệm (Đồng Nai), có nơi giá heo báo đạt 42.000 đồng. Tân Uyên (Bình Dương), giá heo hơi ghi nhận ở mức 41.500 đồng/kg.

Các địa phương còn lại, giá heo hơi không thay đổi, vẫn dao động trong khoảng 38.000 - 46.000 đồng/kg.

Nguồn:  Kinh tế & Tiêu dùng

 

 

Nhập khẩu tôm của Mỹ năm 2018 tăng 5%  (26/03/2019)

Năm 2018, Mỹ đã nhập khẩu 697.239 tấn tôm, tăng gần 5% so với năm 2017, tuy nhiên giá trị nhập khẩu chỉ đạt 6,2 tỉ USD, giảm gần 5% so với năm 2017, theo dữ liệu mới nhất được cung cấp bởi Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ (NOAA ).

Giá trị nhập khẩu tôm Mỹ giảm là do giá tôm trung bình trong năm 2018 xuống còn 8.949 USD/tấn, thấp hơn 9% so với mức giá trung bình 9.839 USD/tấn trong năm 2017.

Tháng 12/2018, Mỹ đã nhập khẩu 62.423 tấn tôm, tăng 4% so với tháng 12/2017, đánh dấu tháng tăng thứ 5 liên tiếp về khối lượng lượng tôm nhập khẩu. Tuy nhiên, giá trị nhập khẩu tôm của Mỹ trong tháng 12/2018 đạt 552,3 triệu USD, giảm 8% so với tháng 12/2017.

Nhìn chung, giá tôm đạt mức 9,23 USD/kg vào tháng 12/2018, thấp hơn 8% so với mức 10,01 USD/kg vào tháng 12/2017, nhưng vẫn cao hơn khoảng 3% so với mức 8,92 USD/kg vào tháng 11/2018.

Ấn Độ vẫn giữ vị thế là nhà cung cấp tôm hàng đầu của Mỹ

Kết thúc năm 2018, Ấn Độ vẫn chiếm vị thế là nhà cung cấp tôm hàng đầu của Mỹ, khi xuất khẩu tới 248.127 tấn tôm, tăng 16% so với năm 2017 và thu về 2,2 tỉ USD, ít hơn một chút so với năm 2017, chiếm 36% tổng khối lượng tôm xuất khẩu sang Mỹ. Tháng 12/2018, Ấn Độ đã xuất khẩu 21.931 tấn tôm sang Mỹ, tăng 16% so với cùng kì năm 2017.

Vì sản lượng giảm nên giá tôm tại Ấn Độ tăng trong nửa cuối tháng 2/2019, theo ông Jim Gulkin, Giám đốc điều hành và người sáng lập của Siam Canada Group.

Giá tôm dự kiến đủ cao để khuyến khích người dân tiếp tục thả nuôi cho vụ kế tiếp. Sản lượng tôm ở Ấn Độ sẽ tăng trong quí II và đầu quí III năm nay, ông Jim Gulkin cho biết thêm.

Tuy nhiên, Ấn Độ có thể gặp khó khăn khi xuất khẩu tôm sang Mỹ trong thời gian tới. Vào tháng 1/2019, chỉ một tháng sau khi chính phủ Mỹ bắt đầu áp dụng các yêu cầu kèm theo trong Chương trình Giám sát nhập khẩu thủy sản (SIMP) đối với tôm, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) đã từ chối 26 lô tôm nhập khẩu do liên quan đến kháng sinh cấm, theo báo cáo của Liên minh tôm miền Nam nước Mỹ (SSA).  Tất cả 26 lô tôm đều được vận chuyển từ Ấn Độ, và chiếm 14,9% trong tổng số 175 lô hàng hải sản bị từ chối trong tháng 1/2019.

Thị trường tôm Indonesia đầy biến động

Indonesia, nguồn cung tôm lớn thứ hai cho Mỹ, xuất khẩu 132.344 tấn tôm sang nền kinh tế lớn nhất thế giới trong năm 2018, tăng 12% so với năm 2017.

Giá tôm Indonesia khá cạnh tranh trong năm 2019, ông Gulkin – người sở hữu công ty cung ứng và xuất khẩu thủy sản toàn cầu có trụ sở tại Bangkok, Thái Lan và các chi nhánh tại Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam và Myanmar, cho biết.

Bên cạnh đó, giá tôm Indonesia dự kiến tăng vào khoảng giữa tháng 3 năm nay khi sản lượng giảm. Tuy nhiên, sản lượng tôm của Indonesia sẽ tăng trở lại vào cuối quí II và đầu quí III, theo ông Gulkin. Giá tôm Indonesia nhìn chung khá cạnh tranh so với giá tôm Ấn Độ, Việt Nam và Thái Lan. Ông Jim Gulkin ước tính Indonesia sản xuất được 425.000 - 450.000 tấn tôm nuôi trong năm 2018.

Tôm Thái Lan gặp khó

Năm 2012, Thái Lan là nguồn cung tôm lớn nhất cho Mỹ với khối lượng tôm xuất khẩu sang Mỹ đạt 135.936 tấn trong khi nguồn cung lớn thứ hai (Indonesia) đạt 74.077 tấn và Ấn Độ đứng thứ 3 với 66.011 tấn.

Tuy nhiên, sản lượng tôm Thái Lan đã giảm trong năm 2013 do hội chứng tôm chết sớm (EMS) bùng phát. Quốc gia này đã xuất khẩu 49.703 tấn tôm sang Mỹ năm 2018, giảm 33% so với năm 2017. Tháng 12/2018, Thái Lan chỉ xuất khẩu 5.514 tấn tôm sang Mỹ, giảm 17% so với tháng 12/2017.

Người nuôi và các nhà chế biến tôm nước này bị ảnh hưởng trong năm 2018 do giá tôm thế giới giảm mạnh. Người nuôi tôm Thái Lan phải yêu cầu sự hỗ trợ dưới dạng đảm bảo giá tối thiểu.

Doanh thu từ tôm của Trung Quốc tiếp tục tăng

Kể từ tháng 12/2018, các nhà nhập khẩu tôm của Mỹ đã tăng cường nhập khẩu tôm từ Trung Quốc do lo ngại thuế nhập khẩu sẽ tăng từ 10% lên 25%. Tuy nhiên, Mỹ và Trung Quốc vẫn đang trong quá trình đàm phán nên trì hoãn việc tăng thuế.

Tháng 12/2018, Mỹ nhập khẩu 5.980 tấn tôm từ Trung Quốc, tăng 49% so với cùng kì năm 2017. Trung Quốc trở thành nguồn cung tôm lớn nhất cho Mỹ trong tháng 12/2018. Năm 2018, Mỹ nhập khẩu 50.824 tấn tôm từ Trung Quốc, tăng 11% so với năm 2017.

Nhu cầu nhập khẩu tôm của Mỹ từ Trung Quốc vẫn tốt khi các nhà bán lẻ Mỹ đang tiếp tục gửi đơn đặt hàng cho nhiều nhà cung cấp Trung Quốc, ông Jim Gulkin cho biết.

Tuy nhiên, sản xuất tôm tại Trung Quốc tiếp tục gặp khó khăn khi công tác quản lí ao nuôi tại nước này chưa tốt, dẫn tới dịch bệnh và tỉ lệ tôm chết cao.

Xuất khẩu tôm Việt Nam sang Mỹ tăng nhẹ trong năm 2018 với 58.383 tấn, tăng 5% so với năm 2017. Tháng 12/2018, Việt Nam xuất khẩu 4.288 tấn tôm sang Mỹ, giảm 8% so với tháng 12/2017.

Nguồn:  Kinh tế & Tiêu dùng

 

 

Hình ảnh cá tra Việt xuất khẩu ngày càng được cải thiện  (26/03/2019)

Năm 2018, số lô hàng cá tra bị phát hiện không bảo đảm an toàn thực phẩm trong xuất khẩu là 84 lô, tỷ lệ vi phạm là 0,39%, giảm so với năm 2017 là 0,89%. 

Theo Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản, để kiểm soát nguồn nguyên liệu an toàn cho người tiêu dùng trong nước và đáp ứng được yêu cầu tiên quyết của các thị trường nhập khẩu khi xuất khẩu cá tra vào các thị trường này (như EU, Liên minh Kinh tế Á Âu, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Brazil…), Cục được giao thực hiện Chương trình giám sát quốc gia dư lượng các chất độc hại trong thủy sản nuôi cho các đối tượng thủy sản nuôi thương phẩm có sản lượng, giá trị lớn. Riêng đối với cá tra, phạm vi giám sát của Chương trình hiện nay bao gồm 34 vùng nuôi cá tra thương phẩm thuộc 11 tỉnh khu vực Nam bộ (Tây Ninh, Sóc Trăng, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Tiền Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang, An Giang, Long An).

Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản cho hay, tỷ lệ mẫu cá tra bị phát hiện vi phạm an toàn thực phẩm trong Chương trình năm 2018 là cao nhất trong 4 năm gần đây. Các chỉ tiêu bị phát hiện chủ yếu là hóa chất kháng sinh cấm sử dụng trong sản xuất kinh doanh thủy sản như: Chloramphenicol, SEM, AOZ, Malachite Green/Leucomalachite Green, Enrofloxacin/Ciprofloxacin, Crystal violet. Việc tìm ra nguyên nhân đã giúp phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm ngay trong quá trình nuôi, góp phần quan trọng hạn chế số lượng các lô hàng cá tra vi phạm khi kiểm tra trước khi xuất khẩu. Từ đó giúp số lượng lô hàng cá tra xuất khẩu bị cảnh báo tại các thị trường nhập khẩu trong năm 2018 giảm mạnh so với các năm trước.

Cụ thể, tổng khối lượng các sản phẩm cá tra xuất khẩu vào một số thị trường tiêu thụ chính của Việt Nam được kiểm tra và cấp chứng thư năm 2018 là 21.350 lô, tăng khoảng 5% số lô so với năm 2017. Trong năm 2018, số lô hàng cá tra bị phát hiện không bảo đảm an toàn thực phẩm là 84 lô, tỷ lệ vi phạm là 0,39% (giảm so với năm 2017 là 0,89%). Các chỉ tiêu vi phạm chủ yếu bao gồm: hóa chất kháng sinh cấm như: CAP, Enrofloxacin, Ciprofloxacin; vi sinh vật gây bệnh như: E.Coli, Salmonella, Listeria Monocytogenes. Ngoài ra, một số lô hàng không đảm bảo các quy định về ghi nhãn, cảm quan, ngoại quan.

Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản cho biết thêm, trong năm 2018, Cục nhận được thông tin về 6 lô hàng cá tra xuất khẩu của Việt Nam bị các thị trường cảnh báo không bảo đảm an toàn thực phẩm, giảm đáng kể so với những năm gần đây. Các thị trường cảnh báo là EU (2 lô), Hoa Kỳ (3 lô), Liên minh Kinh tế Á-Âu (1 lô). Các thị trường Hàn Quốc, Trung Quốc, Argentina trong những năm gần đây không có lô hàng cá tra nào bị cảnh báo.

Để nâng cao hình ảnh cho cá tra Việt, Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản đề nghị, Tổng cục Thủy sản tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức của người nuôi. Tăng cường tập huấn, hướng dẫn người nuôi áp dụng các quy trình nuôi cá tra an toàn thực phẩm và an toàn dịch bệnh như VietGAP, ASC, GlobalGAP, BAP… Chỉ đạo các cơ quan quản lý nuôi trồng thủy sản địa tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc lưu thông, mua bán, sử dụng chế phẩm xử lý, cải tạo môi trường nuôi trồng thủy sản; sử dụng hóa chất, kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản và xử lý nghiêm các vi phạm theo quy định của pháp luật. Đồng thời đề nghị Cục Thú y quản lý chặt chẽ việc cấp phép lưu hành, kinh doanh và sử dụng thuốc thú y, hóa chất sử dụng trong nuôi trồng thủy sản; rà soát, loại bỏ các sản phẩm kém chất lượng, không an toàn ra khỏi Danh mục; Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, đặc biệt là thanh, kiểm tra đột xuất xử lý nghiêm các vi phạm trong NK, sản xuất, lưu thông, sử dụng kháng sinh nguyên liệu, sử dụng thuốc thú y, chế phẩm xử lý cải tạo môi trường không có trong danh mục được phép sử dụng. Tổ chức giám sát, cảnh báo sớm dịch bệnh trên cá tra để kịp thời khuyến nghị và hướng dẫn người nuôi phòng trị bệnh hiệu quả, sử dụng thuốc 4 đúng.

Các doanh nghiệp sơ chế, chế biến, xuất khẩu cá tra cần tuân thủ đầy đủ các quy định của Việt Nam và thị trường nhập khẩu trong việc đảm bảo an toàn thực phẩm sản xuất sản phẩm cá tra. Chấp hành nghiêm túc các quy định về sử dụng phụ gia, hàm lượng nước, tỷ lệ mạ băng…; Chủ động kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu bảo đảm an toàn thực phẩm đặc biệt là các chỉ tiêu hóa chất kháng sinh theo quy định của nước nhập khẩu và hướng dẫn của cơ quan thẩm quyền Việt Nam.

Đối với riêng thị trường Hoa Kỳ, tuy kết quả đánh giá thực địa do Cục Thanh tra an toàn thực phẩm (FSIS), Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ thực hiện trong tháng 5/2018 vừa rồi rất khả quan. Song Cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản lưu ý các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu cá tra vào thị trường này một số nội dung như: Nhà xưởng, trang thiết bị, dụng cụ cần liên tục được duy trì ở điều kiện vệ sinh tốt, đặc biệt là các chi tiết bên trong thiết bị. Đối với chương trình quản lý chất lượng theo HACCP cần được nghiên cứu chuyển đổi phù hợp với các hướng dẫn liên tục được cập nhật của FSIS (trước đây các doanh nghiệp vẫn áp dụng theo HACCP của FDA) và phải phù hợp với thực tế sản xuất tại nhà máy.

Đối với thị trường EU, mặc dù tình hình các lô hàng thủy sản nhập khẩu từ Việt Nam được cải thiện rất đáng kể từ năm 2014 tới nay nhưng vẫn khiến cơ quan thẩm quyền EU quan ngại. Trong đợt thanh tra sắp tới, EU sẽ tập trung vào hoạt động kiểm soát dư lượng hóa chất kháng sinh, do vậy, các doanh nghiệp cần kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu này trong các lô hàng xuất khẩu sang thị trường các nước EU.

Nguồn:  Báo Công Thương