CỔNG THÔNG TIN SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG
nông nghiệp an giang
Điểm tin thị trường

Tin thị trường ngày 25/7/2019

09:00 25/07/2019

Giá hồ tiêu giảm 500 đồng/kg tại một số địa phương - Nông sản xuất khẩu cạnh tranh kém - Xoài Trung Quốc dán mác xoài Campuchia tràn vào Việt Nam - Giá tôm hùm thương phẩm giảm sâu, người nuôi lỗ nặng - Gặp khó tại Mỹ và TQ, giá cá tra lao dốc, lỗ 5.000-6.000 đồng mỗi kg.

 

Giá hồ tiêu giảm 500 đồng/kg tại một số địa phương  (25-07-2019)

Chịu sức ép cung vượt cầu, giá tiêu hôm nay 25/7 tiếp tục giảm 500 đồng/kg tại một số địa phương, dao động quanh mức 44.000-46.000 đồng/kg.

Cụ thể, giá tiêu tại các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bất ngờ giảm 500 đồng, đứng ở mức 46.000 đồng/kg, đây vẫn là địa phương có giá cao nhất cả nước. Tương tự, giá tiêu tại Đắk Nông (Gia Nghĩa) có giá 45.500 đồng/kg. Giá tiêu tại Đắk Lắk (Ea H'leo) giữ ở mức 45.500 đồng/kg. Giá tiêu tại Đồng Nai đứng giá dao động quanh ngưỡng 44.500 đồng/kg. Giá tiêu tại Chư sê (Gia Lai) đứng ở mức 45.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Bình Phước tăng lên mức 46.500 đồng/kg.

Thị trường giá nông sản trong nước theo sát diễn biễn giá nông sản thế giới. Thị trường xuất khẩu nông sản càng lúc càng cạnh tranh gay gắt, không chỉ giá mà còn sản lượng. Vì thế giá nông sản thế giới biến động sẽ tác động thị trường giá nông sản tại Việt Nam. Giá cả thị trường nông sản như hồ tiêu, cà phê tăng sẽ giúp người nông dân gắn bó với nông nghiệp.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhận định nhìn chung, thị trường hạt tiêu toàn cầu chủ yếu vẫn chịu sức ép giảm giá do áp lực dư cung và nhu cầu ở mức thấp. Trong tháng 6, tại thị trường trong nước giá tiêu ở các vùng trọng điểm đã tăng lên so với tháng 5 do nhu cầu có sự khởi sắc. Tuy nhiên sang tuần thứ 3 của tháng 7, giá tiêu đã lui về mức thấp hơn.

Ngày 17/7, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) đã tổ chức Hội thảo thảo luận đề xuất Dự án Phát triển bền vững ngành hàng Điều, Hồ tiêu và Cây ăn quả tại Việt Nam. Dự án Phát triển bền vững ngành hàng Điều, Hồ tiêu và Cây ăn quả tại Việt Nam sẽ được thực hiện tại một số đơn vị thuộc Bộ NN&PTNT, các Hiệp hội điều, hồ tiêu, cây ăn quả và 15 tỉnh.

Dự án cũng sẽ đầu tư để phát triển logistics gồm hệ thống kho bãi, hệ thống kho lanh, kho mát bảo quản quả tươi tại các cửa khẩu biên giới với Trung Quốc. Dự án Phát triển bền vững ngành hàng Điều, Hồ tiêu và Cây ăn quả tại Việt Nam được phê duyệt sẽ giải quyết các thách thức đang đặt ra cho các ngành hàng này của Việt Nam.

Đó là vấn đề cung cấp sản phẩm điều, hồ tiêu và cây ăn quả chất lượng cho các nhà máy chế biến với chi phí cạnh tranh. Bên cạnh đó, dự án sẽ thúc đẩy việc sản xuất điều, hồ tiêu, cây ăn quả có chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường xuất khẩu ngày càng khó tính.

Nguồn:  Đời sống Plus/GĐVN

 

 

Nông sản xuất khẩu cạnh tranh kém  (25/07/2019)

Chiều 24-7, trong khuôn khổ Triển lãm Quốc tế về công nghiệp chế biến, đóng gói và bảo quản nông sản và thực phẩm Việt Nam (Vietnam PFA 2019) do Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phối hợp cùng Công ty Quảng cáo và Hội chợ triển lãm CIS tổ chức tại Trung tâm Triển lãm Sài Gòn (SECC; quận 7, TP HCM) đã diễn ra hội thảo "Phát triển công nghiệp chế biến và bảo quản nông sản trong thời kỳ hội nhập".

Chia sẻ tại hội thảo, ông Ngô Quang Tú - Trưởng Phòng Chế biến, bảo quản nông sản Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản - cho biết 10 năm trở lại đây, công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản duy trì mức tăng trưởng 5%-7%/năm. Nhờ vậy, đã hình thành và phát triển hệ thống công nghiệp chế biến có công suất thiết kế khoảng 120 triệu tấn nguyên liệu nông sản/năm. Hơn 7.500 doanh nghiệp quy mô công nghiệp gắn với xuất khẩu; ngoài ra còn có hàng vạn cơ sở chế biến nông sản nhỏ lẻ, hộ gia đình làm nhiệm vụ sơ chế, chế biến nông sản phục vụ tiêu dùng nội địa. Mặc dù vậy, ngành này vẫn phát triển dưới tiềm năng và dự báo sẽ gặp nhiều khó khăn, thách thức trong thời gian tới.

Theo TS Lê Mạnh Hùng, đại diện Phân viện Cơ - Điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch miền Nam (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), giá trị xuất khẩu rau quả từ 151,5 triệu USD năm 2003, tăng lên đạt 1,07 tỉ USD năm 2013, đạt 3,8 tỉ USD năm 2018, tăng hơn 47,3% so với năm 2017 và dự báo giá trị xuất khẩu sẽ ngày càng tăng do rau quả Việt Nam đang hướng tới các thị trường cao cấp như EU, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Úc, New Zealand… Tuy nhiên, so với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới, nông sản Việt Nam có sức cạnh tranh thấp, chủ yếu xuất khẩu dưới dạng sản phẩm thô theo đường tiểu ngạch với giá trị thấp, mẫu mã chưa hấp dẫn, giá thành cao, tiềm ẩn nhiều rủi ro về an toàn thực phẩm. Một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế này là các khâu xử lý sau thu hoạch còn gặp nhiều khó khăn do công nghệ bảo quản, chế biến nông sản sau thu hoạch vẫn còn thấp. Tỉ lệ tổn thất sau thu hoạch lớn - hơn 25% đối với các loại quả; hơn 30% với các loại rau; 10%-20% với các loại củ - đã làm hạn chế khả năng xuất khẩu của rau quả Việt. Trong khi tỉ lệ tổn thất sau thu hoạch ở các nước châu Á như Ấn Độ là 3%-3,5%, Pakistan 2%-10%, Indonesia 6%-17%, Nepal 4%- 22%.

Theo TS Hùng, Việt Nam đang từng bước tiếp cận các thị trường cao cấp, hướng tới giảm phụ thuộc vào Trung Quốc nên rất cần đầu tư khoa học - kỹ thuật, các công nghệ và thiết bị hiện đại nhằm tìm ra cách thức bảo quản rau quả có hiệu quả và phù hợp nhất. Bên cạnh việc đầu tư nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sau thu hoạch trong sơ chế và bảo quản rau quả, cần tập trung nghiên cứu về giống để tạo được sản phẩm rau quả tươi có chất lượng cao và thời gian bảo quản lâu dài, đồng thời đầu tư xây dựng nhà xưởng đóng gói tại vùng nguyên liệu.

"Để nâng cao giá trị gia tăng cho ngành rau quả, bên cạnh việc nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ kỹ thuật cao để bảo quản rau quả tươi, cần tập trung đầu tư công nghệ chế biến các sản phẩm rau quả đông lạnh, trái cây và rau chế biến tươi (fresh-cut fruit and vegetable)" - TS Hùng nói thêm.

Ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng Giám đốc Vina T&T Group - doanh nghiệp đã xuất khẩu nhiều mặt hàng sang Mỹ, nhìn nhận sản xuất nông sản tại Việt Nam phần lớn phân tán về hộ gia đình, canh tác tự phát nên khâu kiểm soát chất lượng trước và sau khi sản xuất không chặt, khâu chế biến sau thu hoạch yếu. Các doanh nghiệp chủ yếu xuất khẩu nông sản thô, chưa qua chế biến. Một thực tế khác là sản phẩm nông sản thu mua từ nông dân thường không đạt chuẩn về chất lượng cũng như quy cách xuất khẩu sang Mỹ nên chỉ tiêu thụ trong nước hoặc các thị trường mà tiêu chuẩn hàng nông sản không cao, làm giảm giá trị nông sản Việt.

Nguồn: Báo Người lao động

 

 

Xoài Trung Quốc dán mác xoài Campuchia tràn vào Việt Nam  (24/07/2019)

Thời gian gần đây, dọc các cung đường như Phan Đăng Lưu, chợ Bà Chiểu (Bình Thạnh), chợ Gò Vấp (Q.Gò Vấp)... xuất hiện các điểm bán loại xoài trái nhỏ, màu vàng được nhiều người bán giới thiệu xoài Campuchia, xoài miền Tây.

Giá bán được ghi trên các tấm bảng là 15.000 - 25.000 đồng/kg tùy loại. Tuy nhiên, theo nhiều thương lái, loại xoài này được gọi là xoài mút, chủ yếu nhập từ Trung Quốc.

Thông tin từ chợ đầu mối nông sản Thủ Đức cho biết xoài nhỏ, màu vàng là xoài mút Trung Quốc, được nhập về chợ này với số lượng lớn, hơn 60 tấn/đêm.

Ngoài ra, các loại nông sản khác của Trung Quốc về chợ đầu mối khá nhiều với giá bán ra chỉ bằng phân nửa, thậm chí chỉ bằng 1/3 so với sản phẩm cùng loại trong nước.

Chẳng hạn như như cà rốt Trung Quốc hiện có giá 8.000 đồng/ kg, trong khi cà rốt Đà Lạt 25.000 đồng/ kg).

Giá khoai tây Trung Quốc chỉ 10.000 đồng/kg, rẻ bằng một nửa so với giá khoai tây Đà Lạt .

Còn tỏi Trung Quốc giá 21.000 đồng/kg, rẻ hơn rất nhiều so với tỏi Hà Nội 51.000 đồng/kg, hành trắng Trung Quốc 10.000 đồng/kg...

Nguồn: Báo Tuổi Trẻ

 

 

Giá tôm hùm thương phẩm giảm sâu, người nuôi lỗ nặng  (24/07/2019)

Hiện giá tôm hùm thương phẩm các loại trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa giảm sâu, nhất là tôm hùm bông (tôm sao) chỉ còn 1-1,1 triệu đ/kg (loại 1), khiến người nuôi lỗ nặng.

Ngày 23/7, ông Lâm Anh Tuấn, Chủ tịch Hội Nông dân xã Cam Bình (TP Cam Ranh)- “thủ phủ” nuôi tôm hùm ở Khánh Hòa cho biết, hiện giá tôm hùm thương phẩm trên địa bàn được thương lái thu mua với giá rẻ bèo.

Cụ thể, tôm hùm xanh từ 400-550 nghìn đ/kg giảm 50-100 nghìn đ/kg và tôm hùm bông từ 1-1,1 triệu đ/kg (loại 1) giảm 500-600 nghìn đ/kg so với tháng trước. Với giá này, người nuôi trên địa bàn thu hoạch thua lỗ nặng, ít nhất hàng trăm triệu, còn nhiều lên đến tiền tỷ.

Theo các vùng nuôi tôm hùm ở Cam Bình và Vạn Thạnh, hiện nay lượng tôm hùm đến thời kỳ thu hoạch mỗi địa phương lên đến vài chục tấn. Trước tình hình giá tôm giảm mạnh, một số người nuôi chấp nhận thua lỗ bán tháo, một số khác vẫn tiếp tục thả nuôi để chờ giá “nhích” lên. Được biết, toàn tỉnh Khánh Hòa hiện đang thả nuôi tôm hùm trên 49.000 lồng, trong đó xã Cam Bình khoảng 10.000 lồng.

Ông Nguyễn Hữu Danh, một người nuôi tôm hùm ở thôn Bình Ba Tây, xã Cam Bình xác nhận và cho biết, như gia đình ông thả nuôi với số lượng ít, chỉ có 20 lồng mà đã thu hoạch lỗ khoảng 700 triệu đồng.

“Tháng giêng năm ngoái tôi thả khoảng 2.000 con tôm hùm bông, với giá đầu tư từ 250-300 nghìn đ/con. Trong qua trình nuôi tôm bị hao hụt nửa. Vừa rồi tôi xuất bán với giá từ 1,1-1,2 triệu đ/kg, doanh thu chỉ hơn 200 triệu đồng, trong khi đầu tư bỏ ra đã gần 1 tỷ đồng”, ông Danh than vãn.

Cũng theo ông Danh, đối với nuôi tôm xanh, thì lỗ ít hơn vì chi phí đầu tư thấp hơn tôm hùm bông. Tuy nhiên với giá tôm hiện tại, cộng với tỷ lệ nuôi hạo hụt cao, người nuôi khó thoát cảnh thua lỗ.

Cụ thể, nếu thả từ 3.000 con trở lên, xuất bán với giá hiện tại từ 400-550 nghìn đ/kg, thì người nuôi lỗ ít nhất từ 100-200 triệu đồng.

Tương tự, tại vùng nuôi tôm hùm ở huyện Vạn Ninh, người nuôi cũng đang điêu đứng vì giá tôm hùm rớt thê thảm.

Theo Chủ tịch Hội Nông dân xã Vạn Thạnh, hiện giá tôm hùm bông chỉ ở mức trên 1 triệu đ/kg và tôm hùm xanh từ 500-600 nghìn đ/kg. Hơn nữa, thương lái thu mua còn kén chọn, chỉ thu mua tôm loại 1, từ 1 kg trở lên (đối với hùm bông).

“Do tôm rớt giá nên người nuôi trên địa bàn thu hoạch thua lỗ nặng. Nhiều trường hợp bà con thu hoạch xong, dừng lại không thả nuôi nữa”, lãnh đạo Hội Nông dân xã Vạn Thạnh nói.

Về nguyên nhân giá tôm hùm giảm sâu, qua liên lạc các thương lái cho hay, do đường tiểu ngạch từ phía Trung Quốc đang thắt chặt, lượng tôm tồn ở cửa khẩu nhiều.

Vấn đề trên cũng được ông Nguyễn Trọng Chánh, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản Khánh Hòa xác nhận và cho biết, đơn vị đã thông báo cho các địa phương và người nuôi biết về các thị trường không chỉ Trung Quốc mà các nước đang muốn chúng ta phải xuất khẩu thủy hải sản sang đường chính ngạch, để truy suất nguồn gốc.

Trong khi đó, thực tế thời gian qua người nuôi mang tính tự phát, chưa chú trọng các vấn này dù cơ quan chức năng đã khuyến cáo.

Do đó, để tháo gỡ khó khăn cho người nuôi trong thời gian tới, Chi cục tiếp tục hướng dẫn người nuôi theo quy hoạch, đăng ký kê khai đầy đủ với cơ quan quản lý, đồng thời áp dùng quy trình nuôi an toàn sinh học, truy xuất nguồn gốc.

Bên cạnh đó, hướng dẫn người nuôi thành lập các tổ sản xuất hay HTX nuôi trồng nhằm liên kết với DN thua mua, để có đầu ra ổn định hơn.

Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam

 

 

Gặp khó tại Mỹ và TQ, giá cá tra lao dốc, lỗ 5.000-6.000 đồng mỗi kg  (23/07/2019)

Liên tục gặp khó tại 2 thị trường lớn là Mỹ và Trung Quốc, xuất khẩu cá tra từ đầu năm đến nay khá ảm đạm, kéo theo giá cá tra thương phẩm tại thị trường nội địa lao dốc.

Trao đổi với Zing.vn, ông Trần Đình Luân - Phó tổng cục trưởng Thủy sản (Bộ NN&PTNT), cho biết Tổng cục Thủy sản vừa cử một số cán bộ vào các tỉnh nuôi cá tra trọng điểm (gồm An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Long An) để thống kê, kiểm tra tình hình thực tế về lượng cá đang nuôi và khả năng cân đối cung cầu từ nay đến cuối năm.

Giá chạm đáy 2 năm, lỗ từ 5.000-6.000 đồng/kg

Theo báo cáo của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), suốt 4 tháng liên tiếp, từ tháng 3 đến tháng 6 năm nay, giá trị xuất khẩu cá tra giảm 6-17,6% so với cùng kỳ năm 2018. Tính đến hết tháng 6, tổng giá trị xuất khẩu cá tra đạt 961,6 triệu USD, giảm 4,1% so với nửa đầu năm trước.

Đáng chú ý, với thị trường lớn là Mỹ, tính đến hết tháng 6, tổng giá trị xuất khẩu cá tra sang Mỹ chỉ đạt 141,9 triệu USD, giảm 27,9% so với cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 6, giá trị xuất khẩu cá tra sang thị trường này giảm mạnh tới 40,8%.

VASEP nêu rõ tác động của việc tăng thuế bán phá giá trong đợt xem xét hành chính lần thứ 14 (POR14) đã ảnh hưởng rõ nét hơn tới xuất khẩu cá tra Việt Nam sang thị trường Mỹ.

Tháng 4, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đã công bố kết quả cuối cùng của đợt POR14 đối với các lô hàng cá tra Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ trong giai đoạn 1/8/2016-31/7/2017. Mức thuế cuối cùng này tăng cao hơn nhiều so với kết quả sơ bộ đã được công bố hồi tháng 9/2018.

Tương tự Mỹ, thị trường xuất khẩu đình đám tiếp theo là Trung Quốc - Hong Kong (Trung Quốc) cũng không mấy khả quan. Sáu tháng đầu năm nay, xuất khẩu cá tra sang thị trường Trung Quốc - Hong Kong (Trung Quốc) có chiều hướng tăng trưởng chậm hơn nhiều so với các năm trước. Tính đến hết tháng 6, tổng giá trị xuất khẩu cá tra sang thị trường này đạt 254,3 triệu USD, tăng 1,2%, chiếm 26,4% tổng giá trị xuất khẩu cá tra.

Về thị trường nội địa, Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN&PTNT) cho biết: “Nhìn chung, thị trường cá tra nguyên liệu tại Đồng bằng sông Cửu Long trong nửa đầu năm có xu hướng suy yếu dần sau một năm liên tục tăng nóng. Bằng chứng là, giá cá tra đã giảm gần 16.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm 2018 và đang ở mức thấp nhất trong khoảng 2 năm qua”.

Giá bán buôn cá tra nguyên liệu tại ĐBSCL trong tháng 6 tiếp tục xu hướng giảm khoảng 2.000 đ/kg so với tháng trước đó, xuống còn 22.000-23.000 đồng/kg đối với cá tra loại I (800-900g/con), trong khi giá thu mua chỉ trong khoảng 20.000-21.000 đồng/kg. Lượng bắt của các doanh nghiệp ở mức thấp, chủ yếu bắt cá ao nhà và hạn chế mua ngoài.

Do ảnh hưởng bởi giá cá tra nguyên liệu giảm, nhu cầu giống thả nuôi trong dân cũng giảm khiến giá cá giống giảm mạnh. Hiện, giá cá giống loại 30 con/kg dao động ở mức 18.000-20.000 đồng/kg (trong khi cuối năm 2018 giá cá giống là 60.000- 65.000 đồng/kg).

“Nguyên nhân giá giảm là xuất khẩu giảm mạnh, đặc biệt là xuất khẩu sang 2 thị trường lớn là Mỹ và Trung Quốc”, Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản nhận định.

Ông Dương Nghĩa Quốc - Chủ tịch Hiệp hội cá tra Việt Nam, đánh giá: “Với mức giá bán như hiện tại, người nuôi đang lỗ khoảng 5.000-6.000 đồng/kg. Điểm quan trọng là muốn cắt lỗ cũng không dễ vì không bán được hàng”.

“Trái đắng” từ phát triển ồ ạt

Tại sao năm nay tình hình kinh doanh mặt hàng cá tra lại ảm đạm như vậy? Phải chăng đó là do phát triển nóng và sự phụ thuộc quá lớn vào các thị trường lớn như Mỹ, Trung Quốc?

Trả lời câu hỏi này của Zing.vn, ông Trần Đình Luân cho rằng: “Những nơi nào nuôi trồng cá tra có liên kết chặt chẽ, theo dõi thường xuyên thì giá cả vẫn ổn định, người nuôi có lãi. Những nơi dân tự phát đào ao thả cá, không có liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp mới không bán được”.

 “Thực tế, lượng hàng hóa và chuỗi liên kết cơ bản gắn ổn định rồi, không có gia tăng đột phá về thị trường. Mức giá cá xuống đáy chủ yếu rơi vào những trường hợp đào ao tự phát, bán cho thương lái, bị ép giá. Năm 2018, giá cá tra tăng, diện tích trồng lúa không hiệu quả được người dân chuyển đổi sang đào ao nuôi cá tra khá nhiều. Diện tích giống cũng như diện tích nuôi cá tra vì thế tăng lên”, ông Trần Đình Luân nói.

Thừa nhận thị trường Trung Quốc năm nay gặp nhiều khó khăn, ông Luân tiết lộ, việc xuất khẩu cá tra chính ngạch của các công ty vẫn bình thường, song năm nay Trung Quốc siết chặt buôn bán tiểu ngạch. Trước đây, phía doanh nghiệp Trung Quốc sang Việt Nam thấy cá là mua, đóng gói rồi mang về thì hiện nay không làm được như vậy. Thu mua cá tra đều phải có nhãn mác, địa chỉ rõ ràng.

Còn theo ông Dương Nghĩa Quốc, việc nuôi cá tra ồ ạt, nếu chỉ đổ cho nông dân cũng khó. "Khi có lợi nhiều, người dân đương nhiên phải tự tìm cách để có thu nhập. Vấn đề ở đây là, cơ chế chính sách cũng còn nhiều bất cập”.

Ví dụ, vấn đề liên kết chuỗi, phải vận động làm sao người dân liên kết với doanh nghiệp để sản xuất, song đó là chỉ một mặt. Câu chuyện quản lý quy hoạch, quản lý liên kết vùng giữa tỉnh này với tỉnh kia, ai là người điều hành,… hiện nay không có. Phải làm sao để có cơ chế liên kết vùng giữa các tỉnh?

“Vấn đề nữa vô cùng quan trọng là liên kết ngang giữa các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cá tra cũng tự làm khó mình, tranh mua tranh bán. Giá lên thì doanh nghiệp cũng giữ giá nhưng khi khủng hoảng, doanh nghiệp ‘mạnh ai nấy bán’, không cần biết đến lợi ích chung”, ông Quốc nhấn mạnh.

Hội nhập mà không làm tốt thì hàng chỉ để tự dùng

Theo ông Quốc, tình hình kinh doanh cá tra từ nay đến hết năm khá khó dự báo. Để gỡ khó cho toàn ngành, hiệp hội đề nghị các cơ quan quản lý đẩy mạnh xúc tiến thương mại, gỡ khó những vấn đề cụ thể. Ví dụ, xuất khẩu cá tra sang thị trường Mỹ, Trung Quốc, Brazil… khó ở điểm nào thì cơ quan quản lý cùng hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ, đừng chỉ hô khẩu hiệu chung chung.

Về dài hạn, ngành cá tra đã hội nhập vào “sân chơi” quốc tế, phải đảm bảo về tiêu chuẩn xuất xứ, an toàn vệ sinh thực phẩm, có thương hiệu.

“Cá tra Việt còn chưa có thương hiệu. Hội nhập rồi mà không làm tốt thì mình để dùng thôi chứ bán cho ai. Điều này để doanh nghiệp tự làm không nổi mà cần sự hỗ trợ của cơ quan nhà nước, điển hình là Bộ Công Thương và Bộ NN&PTNT”, ông Quốc nhấn mạnh.

Thêm một vấn đề nữa ông Quốc lưu ý là hiện nay nhiều thị trường như Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Indonesia cũng đang thúc đẩy nuôi cá tra. Việt Nam không còn cảnh “một mình một chợ”. Trung Quốc nuôi không nhiều nhưng phía Trung Quốc làm được cũng phải xem chừng yếu tố cạnh tranh.

Từ góc độ cơ quan quản lý Nhà nước, theo ông Luân, hiện nay, định hướng là tiếp tục đẩy mạnh mở rộng thị trường Trung Quốc theo hướng xuất khẩu chính ngạch, tạo cung cầu ổn định lâu dài. Hy vọng, nửa đầu năm Trung Quốc nhập nhiều cá tra đã tiêu thụ hết thì nửa cuối năm nhu cầu tăng lên, xuất khẩu cá tra sẽ được đẩy mạnh hơn.

Ngoài ra, xuất khẩu cá tra còn phải mở rộng sang các thị trường khác, đặc biệt là thị trường trong khối Hiệp định Đối tác Toàn diện và Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA).

“Về phần nuôi trồng, mấu chốt vẫn là đẩy mạnh nuôi trồng có sự liên kết chặt chẽ theo tiêu chuẩn quốc tế, có thể truy xuất được nguồn gốc, đảm bảo được nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng”, ông Luân nói.

Nguồn: Zing.vn