CỔNG THÔNG TIN SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG
nông nghiệp an giang
Điểm tin thị trường

Tin thị trường ngày 30/01/2019

09:00 30/01/2019

Gạo Việt củng cố thương hiệu - Giá heo hơi dịp Tết tăng giá từng ngày, chợ đầu mối bán chạy - Xu thế phát triển chăn nuôi của thế giới - Gỡ khó cho cà rốt - Giá chuối xanh bị đẩy lên trên 300.000 đồng/nải vẫn hút người mua.

 

Gạo Việt củng cố thương hiệu  (30/01/2019)

Sau khi công bố logo gạo Việt, Bộ NN-PTNT đang khẩn trương đăng ký với tổ chức sở hữu trí tuệ quốc tế và chờ sự đồng thuận của nhiều nước về hiện diện logo thương hiệu gạo Việt Nam. Nhiều người đang kỳ vọng gạo Việt sẽ tạo đột phá và khẳng định vị thế trên thương trường trong năm 2019.

 

Những ngày giáp Tết Kỷ Hợi 2019, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo gần như “ngủ đông”, khi thị trường lúa gạo trên thế giới đang trầm lắng. Song, giá lúa gạo ở Đồng bằng Sông Cửu long (ĐBSCL) vẫn ở mức ổn định so với nhiều năm trước. Cùng lúc này, nông dân và doanh nghiệp đang liên kết chặt chẽ để đa dạng hóa mặt hàng lúa gạo nhắm vào từng thị trường tiêu thụ. Đây được xem là hướng đi đúng để vượt qua những thách thức của thị trường.

 

Thị trường xuất khẩu gạo thế giới đang trầm lắng trong tháng 1-2019. Trong khi đó, có thông tin Liên minh châu Âu (EU) dỡ bỏ lợi thế dành cho gạo nhập khẩu có xuất xứ từ Campuchia và Myanmar. Quyết định này gây lo ngại cho viễn cảnh xuất khẩu gạo từ 2 quốc gia này sang EU, qua đó, có thể gây thêm áp lực các nguồn cung đang chuẩn bị bước vào thu hoạch. Song, Philippines vẫn là nhân tố chính để xuất khẩu Việt Nam nhắm đến trong tháng đầu năm 2019 khi các doanh nghiệp tư nhân nước này được cho phép nhập khẩu 1 triệu tấn gạo. Gạo OM5451, Đài thơm 8 và nếp của Việt Nam đang có lợi thế cạnh tranh ở thị trường này. Dù đang có những thách thức nhất định trên thị trường xuất khẩu gạo ngay từ đầu năm 2019 nhưng các doanh nghiệp Việt Nam tỏ ra khá tự tin khi thị trường xuất khẩu được đa dạng hóa với nhiều phân khúc xuất khẩu gạo.

 

Xuất khẩu gạo Việt Nam khép lại năm 2018 với mức tăng trưởng 4,6% (số lượng xuất khẩu đạt 6,09 triệu tấn). Xuất khẩu gạo Việt Nam hiện chiếm 15% tổng lượng gạo xuất khẩu toàn thế giới. Đặc biệt, đã có sự chuyển đổi về giá xuất khẩu và tỷ trọng gạo chất lượng cao một cách tích cực. Nhìn lại năm 2018, việc các doanh nghiệp Việt Nam thắng thầu 50.000 tấn gạo phẩm cấp cao với giá khoảng 700 USD/tấn tại Hàn Quốc được xem là dấu mốc khẳng định hướng đi đúng đắn vào phân khúc gạo thơm, gạo phẩm cấp cao. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), “Năm 2012, gạo thơm chỉ chiếm 7,57% trong cơ cấu xuất khẩu gạo của Việt Nam và tỷ lệ được nâng dần lên 5-7%/năm; đến năm 2018 đạt gần 38% trong cơ cấu xuất khẩu gạo Việt Nam”. Đây là “đòn bẩy” chủ yếu để cải thiện giá xuất khẩu của gạo Việt trên thương trường.

 

Bước vào năm 2019, Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn đã công bố logo gạo Việt. Cùng lúc, Tập đoàn Phoenix (Dubai) đã ký thỏa thuận hợp tác với Tập đoàn Lộc Trời (Việt Nam) phát triển sản xuất lúa gạo bền vững, giảm thiểu những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu, sâu bệnh, thiên tai... Dự án sẽ hỗ trợ 10.000 nông hộ nhỏ Việt Nam mở rộng canh tác lúa gạo bền vững với hơn 10.000ha đất trồng lúa. Qua đó, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội trong việc cung cấp gạo chất lượng cao, với khả năng truy xuất nguồn gốc hoàn toàn và giảm dư lượng hóa chất, nhằm tăng thu nhập của nông dân.

 

Theo VFA, lúa nông dân thu hoạch sớm được thương lái mua tại ruộng với giá 4.600 - 5.400 đồng/kg. Còn lúa khô mua tại kho của doanh nghiệp giá 4.800- 6.400 đồng/kg. Trong đó, giá lúa gạo hạt dài tại Kiên Giang đang được doanh nghiệp trong vùng mua với giá cao nhất là 6.400 đồng/kg, cao hơn các tỉnh lân cận 300 - 800 đồng/kg. 

 

Tại Hậu Giang, nông dân đang phấn khởi khi diện tích lúa đông - xuân được doanh nghiệp bao tiêu ngày càng mở rộng. Trong đó, phong trào liên kết nông dân trồng lúa thơm, doanh nghiệp bao tiêu mua đang nở rộ. Ông Thiều Văn Hải, Giám đốc HTX Nông nghiệp Hải Thành (xã Trường Long A, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang), là một trong những người đi đầu trong phong trào này. Trong 5 năm qua, ông Hải cùng hàng chục nông dân trong HTX bán lúa theo hợp đồng với doanh nghiệp. Vụ đông xuân này, lúa thơm Jasmine 85 do ông Hải trồng được doanh nghiệp bao tiêu với giá 5.400 đồng/kg. Với mức giá sàn tối thiểu này ông cầm chắc lợi nhuận 35 triệu đồng/ha. Nếu giá lúa trên thị trường tăng thì doanh nghiệp sẽ điều chỉnh nâng giá hợp lý.

 

Các chuyên giá lúa gạo nhận định, việc Bộ NN-PTNT công bố logo gạo Việt là điều kiện “cần” nhưng để có thêm điều kiện “đủ”, Việt Nam phải nhắm đến và xác định các dòng lúa gạo chiến lược mang tầm thương hiệu quốc gia. Lâu nay, các chuyên gia lúa gạo đã chỉ ra, muốn xuất khẩu gạo ổn định bền vững thì nông dân và doanh nghiệp Việt Nam phải tạo được uy tín cũng như thương hiệu cho gạo Việt.

 

ĐBSCL bắt đầu có mô hình tích cực như đầu tư cánh đồng mẫu lớn, doanh nghiệp đầu tư giống, cán bộ kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm cho nông dân. Hiệu quả của những mô hình này là hạt gạo sẽ có giá cả ổn định và và thương hiệu cũng rõ ràng hơn. Theo GS.TS Bùi Chí Bửu, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật miền Nam: “Các doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam cần quyết định chọn giống lúa nào đi vào thị trường nào cần nhất, có số lượng lớn nhất và phù hợp với thế mạnh của mình”. Chính vì vậy, các chuyên gia khuyến khích doanh nghiệp cần đa dạng hóa các giống lúa chủ lực như gạo thơm nhắm vào thị trường châu Á, gạo hạt dài phẩm cấp cao nhắm vào các siêu thị châu Âu…

 

Sau khi công bố logo gạo Việt, Bộ NN-PTNT đang khẩn trương đăng ký với tổ chức sở hữu trí tuệ quốc tế và chờ sự đồng thuận của nhiều nước về hiện diện logo thương hiệu gạo Việt Nam. Nhiều người đang kỳ vọng gạo Việt sẽ tạo đột phá và khẳng định vị thế trên thương trường trong năm 2019.

 

Theo số liệu của Bộ NN-PTNT, năm 2018, khối lượng xuất khẩu gạo ước đạt 6,1 triệu tấn với giá trị 3,04 tỷ USD, tăng 4% về khối lượng và tăng 15,3% về giá trị so với năm 2017. Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về nhập khẩu gạo của Việt Nam với 23,7% thị phần.

 

Về loại gạo xuất khẩu, trong 11 tháng đầu năm 2018, giá trị xuất khẩu gạo trắng chiếm 50% tổng kim ngạch; gạo Jasmine và gạo thơm chiếm 32%; gạo nếp chiếm 12% và gạo Japonica, gạo giống Nhật, chiếm 5%. Các chuyên gia cho rằng, năm 2018, xuất khẩu gạo là điểm sáng của ngành khi giá lúa gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng 15-16%.

 

Đáng chú ý, mặc dù xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc giảm đi rất nhiều nhưng xuất khẩu sang các thị trường khác như Phillipines và một số thị trường mới lại tăng lên.

Nguồn: Báo Sài Gòn giải phóng.

 

 

Giá heo hơi dịp Tết tăng giá từng ngày, chợ đầu mối bán chạy  (30/01/2019)

Theo ghi nhận của PV, càng về những ngày cuối tháng Chạp, giá heo hơi (lợn hơi) trên địa bàn cả nước càng có xu hướng tăng nhanh. Tại các tỉnh phía Nam, hiện giá heo hơi đạt bình quân 48.000 - 52.000 đồng. Mỗi ngày, lượng heo về chợ đầu mối đều khá dồi dào nhưng tiểu thương vẫn tiêu thụ tốt.

   

Theo ghi nhận của PV, do nhu cầu dịp cận Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019 đang tăng cao nên không chỉ giá các sản phẩm gia cầm tăng mà giá heo hơi (lợn hơi) cũng tăng khá nhanh.

 

Anh Nguyễn Thành Trung, một chủ trang trại chăn nuôi lợn ở huyện Ba Vì (Hà Nội) cho biết, vài hôm trước, gia đình anh đã xuất bán đàn lợn có trọng lượng trung bình 117kg/con, thương lái trả giá 47.000 đồng/kg. Giá này đã tăng khoảng 5.000 đồng/kg so với tháng 12, nhờ đó người chăn nuôi có lãi khá cao.

 

Một chủ trang trại ở huyện Tam Đảo (Vĩnh Phúc) cũng phấn khởi thông báo, giá lợn hơi xuất bán tại trại trên địa bàn hiện đã cán mốc 49.000 đồng/kg, trong khi trước đó có thời điểm rớt xuống còn 42.000 đồng/kg. Chủ trang trại này hiện đang nuôi khoảng 1.000 con lợn thịt và cho biết, do nhiều trang trại đã phải bán chạy lợn vì lo sợ bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh lở mồm long móng nên hiện lợn hơi trên địa bàn không còn nhiều. Dự  báo, giá lợn hơi những ngày áp Tết Nguyên đán có thể tiếp tục tăng thêm từ 1-2 giá.

 

Với mong muốn thu được lợi nhuận cao vào vụ chăn nuôi cuối năm, mấy tháng trước gia đình anh Vũ Văn Khanh, xã Đồng Thái (An Dương, Hải Phòng) đã thả nuôi hơn 100 con lợn. Mới đây anh đã xuất bán 60 con và hiện còn 50 con nữa, anh dự định sẽ bán xong để còn "nghỉ ăn tết". Anh Khanh cho biết, hiện giá lợn hơi trên địa bàn đạt trung bình 50.000 đồng/kg, với tình hình hiện tại giá lợn hơi sẽ tiếp tục tăng trong những ngày tới.

 

Tương tự, theo ghi nhận của PV, thị trường heo hơi tại các tỉnh phía Nam cũng đang rất sôi động. Hiện giá heo hơi tại thủ phủ chăn nuôi heo Đồng Nai đã đạt bình quân 50.000 - 52.000 đồng/kg, tăng từ 2.000 - 3.000 đồng/kg so với hồi đầu tháng 1/2019.

 

Giá heo hơi tại một số tỉnh khác như Long An, Bến Tre, Tiền Giang, Trà Vinh... cũng đồng loạt tăng thêm 1.000-2.000 đồng/kg, hiện thương lái thu mua phổ biến từ 50.000 - 52.000 đồngkg.

 

Được biết, trong ngày hôm qua 29/1, lượng heo hơi về chợ đầu mối TP.Hồ Chí Minh tăng kỉ lục lên tới 6.700 con, mặc dù vậy các tiểu thương vẫn buôn bán thuận lợi. Trong khi trước đó, lượng heo về chợ trung bình đạt từ 5.200 - 5.600 con nhưng đã có phiên chợ giao dịch không tốt, giá cuối phiên giảm mạnh.

Nguồn: Dân Việt

 

 

Xu thế phát triển chăn nuôi của thế giới  (30/01/2019)

Chăn nuôi là ngành kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của thế giới và Việt Nam. Những thập kỷ qua, nhân loại chứng kiến sự thay đổi ngoạn mục của ngành hàng này cả về quy mô, phương thức sản xuất, năng suất và chất lượng sản phẩm.

 

Tuy nhiên, những thập niên tới, ngành chăn nuôi của thế giới sẽ phát triển theo xu thế nào khi mà các nguồn lực, tài nguyên đất đai ngày càng cạn kiệt, biến đổi khí hậu đang diễn ra gay gắt trên toàn cầu? 

 

Đô thị hóa có tác động đáng kể đến các mô hình tiêu thụ lương thực nói chung và nhu cầu đối với các sản phẩm chăn nuôi nói riêng. Đô thị hóa thường kéo theo sự giảm diện tích sản xuất và dân số làm nông nghiệp, nhưng sẽ làm gia tăng tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi đông lạnh và chế biến.

 

Một nguyên nhân dẫn đến tăng nhu cầu về sản phẩm chăn nuôi là tăng trưởng thu nhập. Từ năm 2020 đến năm 2050, tỷ lệ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người trên toàn cầu hàng năm ước tính 2,5%. Khi thu nhập tăng, thì chi tiêu cho các sản phẩm chăn nuôi cũng sẽ tăng. Tăng trưởng kinh tế toàn cầu dự kiến sẽ tiếp tục trong tương lai, dự báo ở mức từ 1,0 - 3,5%/năm. Tăng trưởng tiêu thụ thịt, sữa ở các nước công nghiệp được dự đoán sẽ chậm hơn so với các nền kinh tế đang phát triển.

 

Nhu cầu lương thực cho sản phẩm chăn nuôi sẽ tăng gần gấp đôi ở vùng cận Sahara châu Phi và Nam Á, từ 200 kcal/người/ngày vào năm 2000 đến khoảng 400 kcal/người/ngày vào năm 2050.

 

Mặt khác, ở hầu hết các nước OECD đã có lượng hấp thụ calo cao của sản phẩm động vật (1.000 kcal/người/ngày trở lên), mức tiêu thụ sẽ không thay đổi, trong khi ở Nam Mỹ và các nước thuộc Liên Xô cũ sẽ tăng lên.

 

Dự báo mức tiêu thụ thịt và sữa bình quân/người/năm ở các nước phát triển đến năm 2030 tương ứng là 89 và 209kg và đến năm 2050 tương ứng là 94 và 216kg. Ở các nước đang phát triển đến năm 2030 tương ứng là 38 và 67kg, đến năm 2050 là 44 và 78kg.

 

Tổng mức tiêu thụ thịt, sữa ở các nước phát triển đến năm 2030 tương ứng là 121 triệu tấn và 284 triệu tấn, đến năm 2050 là 126 và 295 triệu tấn. Còn ở các nước đang phát triển, tổng mức tiêu thụ thịt và sữa đến năm 2030 tương ứng là 252 và 452 triệu tấn; đến năm 2050 là 326 và 585 triệu tấn.

 

Ở Việt Nam sự phát triển của ngành chăn nuôi cùng với việc thu nhập của người lao động tăng, dẫn đến thay đổi lớn trong cách chi tiêu. Theo một tính toán của Ngân hàng Thế giới, tổng chi tuyệt đối cho gạo giảm 4% trong khi chi cho thịt và sữa tăng gấp đôi. Tại khu vực đô thị, chi tiêu cho gạo giảm từ 25% (2002) xuống còn khoảng 17,2%, trong khi chi cho sản phẩm chăn nuôi tăng từ 32,7% lên 37,8% trong cùng kỳ. Tại khu vực nông thôn, chi tiêu cho gạo giảm từ 38,9% xuống 25,4% và chi cho sản phẩm chăn nuôi tăng từ 23,4% lên 34%. 

 

Phát triển hệ thống chăn nuôi trong những thập kỷ tới chắc chắn sẽ liên quan đến sự cân bằng giữa an ninh lương thực, nghèo đói, bình đẳng, bền vững môi trường và phát triển kinh tế. Trong lịch sử, sự phát triển chăn nuôi được đặc trưng bởi hệ thống sản xuất cũng như sự khác biệt ở các khu vực trên thế giới. Hệ thống sản xuất chăn nuôi công nghiệp ở các nước phát triển đã góp phần gia tăng sản phẩm thịt gia cầm và thịt lợn trên thế giới, và các hệ thống sản xuất này đang được thiết lập ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở châu Á, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng. Ước tính ít nhất 75% tổng tăng trưởng sản xuất đến năm 2030 sẽ nằm trong các hệ thống chăn nuôi công nghiệp, nhưng sẽ có ít sự tăng trưởng của hệ thống này ở các nước châu Phi.

 

Trong khi sự tăng trưởng sản lượng cây trồng chủ yếu do tăng năng suất chứ không phải từ việc mở rộng diện tích, thì việc gia tăng sản lượng sản phẩm chăn nuôi tăng lên nhờ vào việc mở rộng số lượng vật nuôi ở các nước đang phát triển, đặc biệt là động vật nhai lại. Giá các loại cây lương thực thực phẩm có khả năng tăng với tốc độ nhanh hơn so với giá của các sản phẩm chăn nuôi. Tuy nhiên, việc sản xuất thức ăn thay thế cho động vật nhai lại trong các hệ thống trồng trọt và chăn nuôi hỗn hợp có thể bị hạn chế bởi cả đất và nước, đặc biệt là các hệ thống tưới tiêu.

 

Dự báo sự gia tăng đáng kể nhu cầu lương thực sẽ có tác động sâu sắc đối với hệ thống chăn nuôi trong những thập kỷ tới. Ở các nước phát triển, tăng trưởng năng suất sẽ góp phần tăng tỷ trọng tăng trưởng sản xuất chăn nuôi khi việc mở rộng quy mô sẽ chậm lại.

 

Giá thịt, sữa và ngũ cốc có khả năng tăng trong những thập kỷ tới, đảo ngược đáng kể xu hướng trong quá khứ. Sự tăng trưởng nhanh chóng về nhu cầu thịt và sữa có thể làm tăng giá ngô và các loại ngũ cốc thô và các loại nguyên liệu thức ăn khác.

 

Ngành sản xuất nông nghiệp đang phục vụ ngày càng nhiều cho chế độ ăn toàn cầu hóa. Việc bán lẻ qua các siêu thị tăng 20% mỗi năm ở các nước như Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam, và điều này sẽ tiếp tục trong vài thập kỷ tới khi người tiêu dùng đô thị cần nhiều thực phẩm chế biến hơn, do đó gia tăng vai trò của kinh doanh nông nghiệp. Rõ ràng, xu hướng sử dụng thực phẩm giàu protein ngày càng cao, và như vậy, thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển là điều dễ hiểu.

 

Nhu cầu năng lượng sinh học được dự đoán sẽ cạnh tranh với các nguồn tài nguyên đất và nước và điều này sẽ làm trầm trọng thêm sự cạnh tranh về đất đai từ việc tăng nhu cầu về nguồn thức ăn.

 

Sự khan hiếm nước và đất sẽ đòi hỏi tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên đáng kể trong sản xuất chăn nuôi để tránh những tác động bất lợi đến an ninh lương thực và mục tiêu an sinh của con người. Giá cao hơn có thể mang lại lợi ích cho các nhà sản xuất nông nghiệp, nhưng có thể giảm tiếp cận với thực phẩm bởi một số lượng lớn người tiêu dùng nghèo, bao gồm cả những nông dân không sản xuất thặng dư ròng cho thị trường. Kết quả là, tiến trình giảm suy dinh dưỡng được dự báo sẽ chậm lại.

 

Dự báo trong các thập kỷ tới, chăn nuôi của thế giới sẽ phát triển theo hướng nâng cao chất lượng; sản xuất thực phẩm hữu cơ; thân thiện với môi trường và coi trọng phúc lợi động vật. Nhu cầu tiêu dùng các loại thực phẩm hữu cơ tiếp tục tăng cao nên doanh số bán các loại mặt hàng này trên thị trường toàn cầu tăng bình quân 12-13%/năm trong những năm qua và xu hướng tiêu dùng này sẽ tiếp tục tăng trong tương lai.

 

Thị trường tiêu thụ sản phẩm hữu cơ lớn nhất là Mỹ với 24,4 tỷ USD, trong khi nước tiêu thụ loại thực phẩm này theo đầu người hàng năm lớn nhất là Thụy Sĩ (204 USD). Hiện đã có một số công ty lớn trên thế giới liên kết với người chăn nuôi để tạo dựng thị trường thực phẩm hữu cơ ổn định.

 

Do áp lực từ các tổ chức xã hội, nhiều tập đoàn chăn nuôi đa quốc gia, công ty phân phối và chế biến thực phẩm đều đang thực hiện cải thiện phúc lợi động vật bằng việc thay đổi dần các quy trình sản xuất.

 

Phần lớn người tiêu dùng ở các nước phát triển đều quan tâm đến phúc lợi động vật và họ sẵn sàng trả giá cao hơn cho những động vật có xuất xứ từ trang trại nuôi dưỡng được đảm bảo tính nhân đạo.

 

Nhiều quốc gia thành viên tham khảo và sử dụng các tiêu chuẩn của OIE được trong quá trình theo đuổi phúc lợi động vật trong sản xuất và thương mại.

 

Ngành chăn nuôi toàn cầu được đánh giá vừa là tác nhân gây ô nhiễm môi trường vừa là đối tượng chịu hậu quả của ô nhiễm môi trường do chính ngành này gây ra. Theo các nhà khoa học, hành tinh chúng ta đang sống không khác gì một trang trại khổng lồ vì 40% diện tích bề mặt trái đất được sử dụng để sản xuất thực phẩm cho con người. Ước tính ngành chăn nuôi phát thải khoảng 15% tổng lượng phát thải khí nhà kính của con người, gần như tương đương với lượng khí thải trực tiếp từ giao thông vận tải.

 

Tại các nước đang phát triển ngành này đóng góp tỷ lệ hiệu ứng nhà kính cao nhất, trong đó 75% từ hoạt động chăn nuôi động vật nhai lại và 56% từ chăn nuôi gia cầm và heo. Do đó, thịt heo và gà luôn được đánh giá là “thân thiện môi trường” nhất khi tỷ lệ hiệu ứng nhà kính là 10%.

 

Chăn nuôi Việt Nam hiện đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng, sau khi nước ta gia nhập Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Những cơ hội và thách thức sẽ xuất hiện cả trên thị trường nội địa và quốc tế. Nhưng muốn cạnh tranh hiệu quả thì ngành chăn nuôi nước ta phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ cả về phương thức tổ chức sản xuất, quy mô, công nghệ và thị trường tiêu thụ. Trong đó tập trung giải quyết các điểm yếu về năng suất, chất lượng sản phẩm, VSATTP, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường và mở rộng thị trường xuất khẩu.

Nguồn: Báo Nông Nghiệp Việt Nam

 

 

Gỡ khó cho cà rốt  (29/01/2019)

Hải Dương đã và đang triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ cà rốt cho nông dân. Trong khi đó, dự báo nhiều khả năng giá cà rốt sẽ tăng trở lại trong thời gian tới khi vụ thu hoạch cà rốt của Trung Quốc kết thúc.

 

Theo Sở NN-PTNT Hải Dương: Vụ đông năm 2018-2019, tổng diện tích cà rốt tại địa bàn tỉnh vẫn duy trì ở mức khoảng xung quanh 1.200 ha, với tổng sản lượng khoảng 43 nghìn tấn, tăng không đáng kể diện tích và giảm nhẹ về sản lượng so với các năm trước (năng suất cà rốt trà sớm một số bị mất mùa do mưa).

 

Về tình hình tiêu thụ, cà rốt tỉnh Hải Dương chủ yếu được các công ty, doanh nghiệp và thương lái thu mua và tiêu thụ tại các tỉnh miền Trung, miền Nam và các thành phố lớn. Một phần được các nhà máy thu mua sơ chế, chế biến, bảo quản để xuất khẩu. Hiện trên địa bàn tỉnh có 16 doanh nghiệp và khoảng 50 tư thương thu gom cà rốt tập trung chủ yếu trên địa bàn huyện Cẩm Giàng, Nam Sách để sơ chế, đóng gói tiêu thụ nội địa, xuất khẩu ở dạng tươi và một phần sấy khô cung cấp cho công nghiệp chế biến và cấp đông, bảo quản lạnh xuất khẩu sang Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, các vùng Trung đông… Các doanh nghiệp lớn tiêu thụ cà rốt như Công ty TNHH MTV Hưng Việt (huyện Gia Lộc); Công ty CP CBNSTP Tân Hương, Công ty CP Giống cây trồng và Nông sản xuất khẩu Kiên Giang, Công ty CP XNK Xuân Lộc, Công ty TNHH NSTP Ánh Dương (huyện Cẩm Giàng); DNTN Vũ Công (huyện Nam Sách)...

 

Hiện các doanh nghiệp này đang thu mua cà rốt của nông dân khoảng 20-100 tấn/ngày, giá mua khoảng 3.000-4.500 đồng/kg tùy loại. Tuy nhiên, hiện nay giá cà rốt thấp hơn cùng kỳ năm trước, tiêu thụ còn chậm do ảnh hưởng của thị trường Trung Quốc được mùa (không bị ảnh hưởng của băng tuyết như năm trước) và đang trong thu hoạch nên đã ảnh hưởng đến tiêu thụ tại Việt Nam. Mặc dù vậy, hiện tại, nhiều diện tích cà rốt đã được các thương lái, cơ sở thu mua tại địa phương đặt mua trọn gói ngay từ đầu vụ với giá trung bình từ 5-6 triệu đồng/sào. Với giá này, dù không lãi cao như một số năm trước nhưng nông dân vẫn có lãi trung bình khoảng 2 triệu đồng/sào.

 

Trước những khó khăn trong tiêu thụ cà rốt, hiện Sở NN-PTNT Hải Dương đã có khuyến cáo nông dân tiếp tục chăm sóc và bảo vệ cây cà rốt cho đến khi kết thúc thu hoạch. Theo đó, có thể kéo dài thời vụ thu hoạch đối với các khu ruộng cà rốt chưa quá lứa, còn phát triển củ, không thu ồ ạt ảnh hưởng đến thị trường. Bởi vụ cà rốt tại Hải Dương thường vẫn có thể kéo dài tới cuối tháng 4 (dương lịch) hàng năm.

 

Đây cũng là giải pháp có thể kỳ vọng đẩy được giá cà rốt sẽ tăng lên khi nguồn cà rốt của Trung Quốc hết vụ thu hoạch, bởi hiện tại, cà rốt của Trung Quốc cũng đang chuẩn bị vào cuối vụ. Bên cạnh đó, Sở NN-PTNT Hải Dương cũng đề nghị các công ty, siêu thị, thương lái... chủ động kế hoạch, đặt hàng với nông dân (thông qua hợp tác xã hoặc tổ hợp tác), ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm cho nông dân tại 2 vùng cà rốt tập trung từ nay đến hết vụ. Đồng thời, tăng thu mua cà rốt, tích trữ bảo quản trong các kho lạnh bán dần, tăng cường công suất chế biến sản phẩm cà rốt khô cung cấp cho các nhà máy làm gia vị và tìm kiếm thị trường xuất khẩu cà rốt chế biến. Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp tỉnh Hải Dương cũng kêu gọi các doanh nghiệp, đơn vị thu mua cà rốt có tinh thần phối hợp với nông dân, thu mua không ép giá và thúc đẩy liên kết bền vững lâu dài đôi bên cùng có lợi.

 

Trao đổi với NNVN, nhiều doanh nghiệp có thâm niên trong ngành xuất nhập khẩu, chế biến nông sản tại Hải Dương đều dự báo chỉ một thời gian ngắn nữa, cà rốt nhiều khả năng sẽ tăng giá trở lại.

 

Năm 2018, toàn huyện Cẩm Giàng có 750ha cà rốt. Trong đó, địa phương trồng nhiều nhất là xã Đức Chính, chiếm 360ha. Tại xã Cẩm Văn, giáp xã Đức Chính, từ năm 2009 đã hình thành một nhà máy chế biến, xuất khẩu nông sản rộng hơn 1ha. Chủ sở hữu nhà máy này là Công ty CP Chế biến nông sản thực phẩm Tân Hương (Tân Hương foods).

 

Ông Nguyễn Đức Mệnh, Giám đốc Tân Hương foods cho biết, khoảng nửa tháng nay, nhà máy chế biến luôn thu mua đều đặn cho người trồng tại các xã Cẩm Văn, Đức Chính khoảng 100 tấn cà rốt/ngày. Công ty này thu mua qua các thương lái với giá xô từ 5,5 – 5,7 nghìn đồng/kg. Sau khi thu mua, doanh nghiệp này sơ chế, đóng gói theo quy cách để xuất khẩu. Theo ông Mệnh, lượng cà rốt xuất khẩu và tiêu thụ nội địa luôn cân bằng ở mức 50/50. Thị trường xuất khẩu ổn định của doanh nghiệp này là Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc. Không chỉ Tân Hương foods, hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu cà rốt đang phải cạnh tranh nảy lửa với thị trường cà rốt Trung Quốc. “Nếu như mọi năm, thời tiết tại Trung Quốc rét đậm, rét hại và mưa tuyết thì năm nay lại ấm hơn. Mọi năm, do mưa tuyết, các vùng trồng cà rốt của Trung Quốc sẽ bị thiệt hại nên phải thu hoạch và hết sớm. Năm nay, cà rốt Trung Quốc trúng vụ, sản lượng nhiều nên thương lái bên họ không thu mua cà rốt Việt Nam mà ưu tiên tiêu thụ hàng nội địa. Trong khi thị trường xuất khẩu của họ tương đối giống Việt Nam nên sự cạnh tranh là điều không tránh khỏi” – ông Mệnh cho biết.

 

Theo tính toán của ông Mệnh, hiện cà rốt Việt Nam xuất khẩu đi các nước đang thấp hơn cà rốt Trung Quốc khoảng 400 đồng/kg. Đại diện Tân Hương foods tiết lộ, do cà rốt Trung Quốc trước nay vốn được trồng bài bản, mẫu mã đẹp, năng suất cao. Hơn nữa, do Chính phủ Trung Quốc lại luôn có chính sách trợ giá nông sản xuất khẩu. Ví như vụ cà rốt tại Trung Quốc, nếu rớt giá, các doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ngay lập tức được Chính phủ trợ giá khoảng 200 đồng/kg (quy đổi ra VNĐ). Tuy nhiên theo ông Mệnh, thời vụ thu hoạch cà rốt Trung Quốc hiện không còn nhiều, vì vậy giá cà rốt Việt Nam nhiều khả năng sẽ dần tăng giá trở lại trong thời gian tới. Do sản lượng cà rốt của người dân tại Hải Dương sắp tới kỳ thu hoạch còn nhiều, ông Mệnh cho rằng, khi đó sản phẩm Việt Nam sẽ chiếm lĩnh lại các thị trường xuất khẩu, thế chân Trung Quốc.

 

Trước những khó khăn hiện tại, theo ông Mệnh, các doanh nghiệp xuất khẩu cũng đã và đang lên nhiều phương án đối phó. Một là đầu tư xây dựng các kho lạnh để thu mua, bảo quản cà rốt cho người dân, sau đó tung ra thị trường khi Trung Quốc khan hàng. Hai là đầu tư dây chuyền chế biến cà rốt thành các sản phẩm khô. “Lường trước khó khăn, vài năm qua doanh nghiệp của tôi đã đầu tư, dành 20% lượng cà rốt để chế sấy khô. Những sản phẩm này sau đó được bán lại cho các doanh nghiệp sản xuất mì tôm, cơm rang hay làm mứt” – vị này cho biết. 

 

Ghi nhận của PV NNVN, tới hôm qua (29/1) tại vựa cà rốt xã Đức Chính (huyện Cẩm Giàng), giá cà rốt nông dân bán tại ruộng dao động từ 2.500 – 3.700 đồng/kg (thấp hơn so với bình quân năm trước ở mức 4.500 đồng/kg).

 

Theo UBND xã Đức Chính, một trong những nguyên nhân khiến giá hạ là do người dân tự ý mở rộng diện tích trồng cà rốt không theo quy hoạch của xã. Cụ thể, tổng diện tích trồng cà rốt tại xã Đức Chính chỉ có khoảng 360ha, tuy nhiên người dân sang các tỉnh lân cận, thuê thêm gần 750ha đất để mở rộng diện tích canh tác cà rốt, khiến sản lượng tăng thêm vọt thêm gần 40.000 tấn.

 

“So với năm ngoái, lượng cà rốt của xã Đức Chính xuất khẩu (ngoài thị trường Trung Quốc) năm nay tăng nhiều hơn mọi năm. Trong thời gian tới, khi thị trường Trung Quốc hết hàng, giá cà rốt Đức Chính chắc chắn sẽ lại tăng trở lại và xuất khẩu sẽ mạnh hơn. Chúng tôi cũng khuyến cáo người dân không nên mở rộng thêm diện tích cà rốt để ổn định về cung – cầu” - ông Nguyễn Đức Thuật, Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp xã Đức Chính nêu quan điểm.

 

Theo kinh nghiệm của nông dân tại xã Đức Chính, một trong những biện pháp để bảo quản cà rốt, đó là thu hoạch xong, cắt lá và vùi củ trong đất cát ngay tại ruộng, phủ ni-lon để cà rốt không bị gặp mưa. Bằng cách này, cà rốt thu hoạch xong vẫn có thể bảo quản được nguyên vẹn về chất lượng, mẫu mã từ 3-4 tháng. Đây cũng có thể là giải pháp để bảo quản cà rốt khi giá quá thấp.

 

Trao đổi với NNVN, Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương, ông Nguyễn Mạnh Hiển khẳng định, về khâu hậu thu hoạch, Hải Dương luôn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư vào chế biến, xuất khẩu. Hải Dương đang cố gắng hình thành nhiều nhà máy chế biến công suất cao, hiện đại, đưa mặt hàng cà rốt tới nhiều thị trường hơn trên thế giới.

Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam

 

 

Giá chuối xanh bị đẩy lên trên 300.000 đồng/nải vẫn hút người mua  (29-01-2019)

Chuối xanh là món đồ quan trọng, không thể thiếu trong mâm ngũ quả. Những ngày cận Tết giá bán chuối xanh, đặc biệt là chuối tiêu xanh tại các chợ nội thành Hà Nội đã tăng gấp nhiều lần so với ngày thường.

 

Từ ngày 23 đến ngày 27 tháng Chạp âm lịch là thời điểm nhu cầu mua sắm, bày biện mâm ngũ quả thắp hương ngày Tết tăng cao, dẫn đến tình trạng nhiều loại hoa quả như chuối xanh, bưởi, phật thủ, thanh long… liên tục bị đẩy giá cao gấp nhiều lần ngày thường.

 

Ghi nhận của người viết tại chợ Nhổn, chợ Nghĩa Tân, chợ Mai Dịch, chợ Mễ Trì, chợ Phùng Khoang cho thấy, giá chuối xanh bị đẩy lên gấp 10 lần so với ngày thường. Nếu như ngày thường, chuối được rao bán với giá 20.000-30.000 đồng một nải thì nay đội lên 200.000-300.000 đồng.

 

Tại chợ Nhổn, giá chuối xanh những ngày gần đây tăng giá chóng mặt, hằng ngày một lượng lớn chuối chuối xanh được thương lái vận chuyển về chợ bán buôn bán lẻ rất nhiều nhưng giá không hề rẻ thời điểm này giá chuối đang cao và được coi là đỉnh điểm trong dịp Tết.

 

Chị Huyền, chuyên bán chuối tại chợ Nhổn cho biết giá chuối hiện nay tăng khá cao. Loại quả nhỏ, xấu cũng phải 100.000-150.000 đồng mỗi nải, loại đều đẹp có giá hơn 200.000 đồng một nải. Còn loại đẹp nhất, quả to, nải chuối đều đẹp giá lên tới 300.000 đồng.

 

Còn đắt nhất là các nải chuối lẻ, tức là số lượng quả trên một nải là số lẻ 15, 17, 19 quả. Những người bán hàng giải thích nải lẻ đắt vì hiếm, và nhiều người chuộng dùng các số lẻ trên bàn thờ cúng Tết. Các nải chuối xanh quả lẻ, có râu dài đẹp mắt có giá bán cao hơn nhiều lần loại chuối xanh quả chẵn, bởi theo quan niệm truyền thống, thắp hương các loại quả có số lượng lẻ sẽ mang đến may mắn cho cả năm.

 

Một nải chuối xanh quả lẻ có giá bán từ 120.000 đồng đến 200.000 đồng/nải, tùy theo kích thước quả. Tại chợ Nhổn, chợ NghĩaTân, chợ Mai Dịch…, những nải chuối xanh quả lẻ, loại to, quả đều, gồm từ 19 đến 21 quả được người bán nói giá từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng/nải.

 

Đây là mức giá làm nhiều người tiêu dùng chóng mặt vì vào ngày rằm, mùng một bình thường, một nải chuối xanh loại đẹp cũng chỉ có giá khoảng 30.000 – 40.000 đồng.

 

Tại một gian hàng chuối ở chợ Mai Dịch có nải chuối lẻ được hô giá 300.000 đồng, một nải khác ít quả hơn nhưng kích cỡ to hơn có giá 200.000 đồng. Anh Hải người bán cho biết, giá này vẫn chưa phải đắt nhất. Chiều qua anh đã bán được một nải to đẹp hơn thế này giá 370.000 đồng.

 

Chị Hà, một người dân ở Sơn Tây - Hà Nội cho biết, chị đã đặt tiền mua cả vườn chuối mà hôm vừa rồi về chặt chuối vận chuyển lên nội thành Hà Nội, nhà vườn còn đòi tăng giá lên thêm chút nữa, nếu không chấp nhận sẽ bán cho người khác. Giá ở vườn tăng nên người bán cũng phải tăng theo.

 

Một điểm chung của những hàng chuối Tết là người bán hiếm khi giảm giá, kể cả khi khách chỉ mặc cả giảm chút ít.

 

Chị Mai Anh, nhân viên văn phòng ở Từ Liêm cho biết, chuối là loại quả không thể thiếu trong mâm ngũ quả ngày Tết. Gia đình chị năm nào cũng mua 4-5 nải. Tuy nhiên, năm nay do giá chuối đắt hơn nên chị quyết định mua giảm xuống còn 3 nải. Hôm nay đi chợ sớm, chị có hỏi giá chuối xanh tại chợ Nhổn, được chủ hàng nói giá 300.000 đồng một nải nhưng do nải này có 15 quả nên chị mặc cả xuống còn 250.000 đồng nhưng người bán còn chưa mặn mà.

 

Không chỉ chuối, giá các loại hoa quả chuyên dùng để cúng Tết tăng giá khá mạnh những ngày gần đây.

 

Trong khi đó, các mặt hàng đồ cúng khác cũng tăng phi mã như: Vàng mã, dao động từ 30.000 - 100.000 đồng/bộ; giá 1 cành ly dao động từ 30.000 - 40.000 đồng/cành, tăng gấp rưỡi so với mấy ngày trước. Các loại hoa cúc, hoa lay-ơn, hoa hồng cũng tăng lên 50.000 - 70.000 đồng/chục, gấp đôi so với ngày thường.

Nguồn:  Trí thức trẻ