CỔNG THÔNG TIN SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG
nông nghiệp an giang
Điểm tin thị trường

Tin thị trường ngày 30/10/2019

09:00 30/10/2019

Giá gà miền Bắc tăng mạnh - Giá tôm hùm tăng trở lại - Nông dân miền Tây trồng chanh không lo đầu ra nhờ xuất khẩu sang Trung Quốc - Sức mua lúa giống tăng cao - Người trồng mía kêu cứu .

 

Giá gà miền Bắc tăng mạnh  (30/10/2019)

Theo số liệu công bố của Tổng cục Hải quan, trong 9 tháng đầu năm 2019, cả nước nhập khẩu trên 215.000 tấn thịt gà các loại với kim ngạch đạt hơn 186 triệu USD, tăng 49% về lượng và tăng 46% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2018.

Theo báo cáo của Bộ Công thương ngày 29/10, trong 9 tháng đầu năm 2019, thịt gà từ Mỹ chiếm 61,8% tổng lượng nhập khẩu của Việt Nam, Brazil đứng vị trí thứ 2 với 13,1% và Hàn Quốc thứ 3 chiếm 12,3%.

Thịt gà nhập khẩu vào Việt Nam tập trung vào hai loại là thịt gà đông lạnh nguyên con và thịt gà đông lạnh đã chặt, chiếm 98% tổng kim ngạch nhập khẩu thịt gà. Trong đó, đùi gà chiếm tỷ trọng nhập khẩu lớn nhất (71,5%), tiếp theo là chân gà (8,7%), gà nguyên con (8,2%), cánh gà (5,8%), các bộ phận khác (5,8%).

Theo dõi số liệu thống kê trong các tháng đầu năm 2019, so với năm 2018, có thể thấy lượng nhập khẩu thịt gà tăng trong giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6/2019 nhưng đã giảm dần từ tháng 6. Giá nhập khẩu bình quân mặt hàng thịt gà là 861 USD/tấn, tương đương khoảng 19.800 đồng/kg (chưa tính thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, bảo quản kho lạnh...) và có xu hướng tăng khá mạnh từ tháng 6/2019 đến nay.

Về nguồn cung thịt gia cầm phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong nước, trong các năm qua, ngành chăn nuôi gia cầm nước ta phát triển khá mạnh, tốc độ tăng trưởng sản lượng thịt gà các loại sản xuất trong nước giai đoạn 2015 - 2018 đạt 5,6%/năm, tính đến hết tháng 9/2019, tổng đàn gia cầm của cả nước đã tăng 13,5% so với cùng kỳ năm 2018 (chỉ riêng quý III/2019 đã tăng 19,2% so với quý III/2018).

Với tỉnh Đồng Nai, địa phương chăn nuôi trọng điểm của cả nước, khi dịch bệnh tả lợn Châu Phi lan rộng, nhiều cơ sở chăn nuôi lợn ở Đồng Nai nói riêng và khu vực Đông Nam bộ nói chung đã chuyển sang chăn nuôi gà. Tính đến hết tháng 9/2019, tổng đàn gà của riêng tỉnh Đồng Nai đạt hơn 24,8 triệu con, đã tăng 16,8% so với thời điểm tháng 4 năm 2019.

Vào thời điểm ngày 22/10/2019, giá thịt gà công nghiệp (lông trắng, lông màu) tại các tỉnh thuộc khu vực Đông Nam bộ ở mức 25.000 - 25.500 đồng/kg, giảm 30% so với cùng kỳ năm 2018. Đây là mức giá đã tăng hơn nhiều so với thời điểm giữa tháng 9 năm 2019 (16.000 - 18.000 đồng/kg), giai đoạn các hộ chăn nuôi đang ồ ạt bán tháo cắt lỗ gây giá sụt giảm mạnh. 

Trong khi các tỉnh phía Nam giá gà mới bắt đầu khởi sắc thì tại các tỉnh phía Bắc, giá thịt gà nuôi công nghiệp dao động từ 35.000 - 37.000 đồng/kg, cao hơn tới 10.000 đồng/kg so với phía Nam. Đặc biệt, nhiều nơi ở miền Bắc như Bắc Giang, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Lào Cai, Thái Nguyên, Phú Thọ, Thanh Hóa... giá gà lông màu đang tăng mạnh và có mức giá rất tốt, xung quanh 58.000 - 60.000 đồng/kg.

Như vậy, có thể thấy, trước tháng 8/2019, giá gà thịt trong nước tương đối ổn định, giá thịt gà trong nước chỉ giảm cục bộ tại một khu vực với một chủng loại trong một thời điểm (giá thịt gà ta, gà công nghiệp tại phía Bắc gần như không có sự thay đổi, chỉ giảm giá thịt gà công nghiệp tại khu vực Đông Nam Bộ trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 9/2019).

Theo Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam bộ, nguyên nhân là do khi dịch tả lợn Châu Phi lan rộng, nhiều hộ chăn nuôi lợn ở khu vực Đông Nam bộ dự báo người tiêu dùng sẽ không ăn thịt lợn, vì vậy đã chuyển sang chăn nuôi gà công nghiệp ồ ạt, làm tăng đàn tự phát, thiếu kiểm soát.

Theo ông Nguyễn Văn Trọng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NN-PTNT), việc phát triển “nóng” ngành chăn nuôi gà tại khu vực phía Nam đã gây sức ép cho các hộ, các cơ sở chăn nuôi bán giảm giá để cắt lỗ, thu hồi vốn. Có thời điểm mỗi tuần, khu vực Đông Nam Bộ cho xuất chuồng đến 2,5 triệu con gà. Đây là những nguyên nhân chính đẩy giá gà công nghiệp tại khu vực Đông Nam Bộ giảm sâu trong thời gian tháng 8 và tháng 9/2019.

Cũng theo ông Trọng, số liệu về nhập khẩu thịt gà cho thấy lượng nhập khẩu có xu hướng tăng trong giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6 để bù đắp cho sự thiếu hụt nguồn cung thịt lợn trong nước do dịch tả lợn châu Phi. Tốc độ nhập khẩu thịt gà từ giai đoạn tháng 6 đến nay có xu hướng giảm do giá nhập khẩu bình quân thịt gà bắt đầu tăng từ tháng 6/2019, cộng thêm nguồn cung sản xuất trong nước tăng liên tục, đặc biệt là tại khu vực Đông Nam Bộ.

Giá thịt gà nhập khẩu trong giai đoạn tháng 8 đến đầu tháng 9/2019 luôn cao hơn giá thịt gà công nghiệp sản xuất trong nước tại khu vực Đông Nam bộ. Giá nhập khẩu bình quân thịt gà tháng 8 là 910 USD/tấn, tương đương 21.500 đồng/kg, tháng 9 là 857 USD/tấn, tương đương 20.000 đồng/kg, chưa tính thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, chi phí, thủ tục nhập khẩu, bảo quản kho lạnh.

Như vậy, có thể thấy việc nhập khẩu thịt gà trong thời gian qua có thể cũng tác động một phần nào nhưng không phải là nguyên nhân chủ yếu tác động tiêu cực đến ngành chăn nuôi trong nước, gây giảm giá thịt gà tại Đông Nam bộ. Dự kiến trong thời gian từ nay đến cuối năm, giá thịt gà công nghiệp vẫn duy trì ở mức thấp, đặc biệt là tại khu vực Đông Nam bộ do nguồn cung ứng trong nước vẫn dồi dào.

Bộ Công thương khuyến cáo các hộ, cơ sở chăn nuôi cân nhắc việc tăng đàn, tránh tự phát, ồ ạt, các địa phương chăn nuôi gà trọng điểm tăng cường hướng dẫn, tuyên truyền đến các hộ, các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn nhằm kiểm soát tình hình chăn nuôi, đáp ứng đúng quy hoạch, tránh dẫn đến nguồn cung quá lớn, làm giảm giá bán.

Còn Bộ NN-PTNT cho biết, sẽ tiếp tục theo dõi sát tình hình chăn nuôi gia cầm, gia súc các loại, tái cơ cấu ngành chăn nuôi với mô hình tập trung và hiện đại, đảm bảo sản xuất theo đúng quy hoạch, tránh tình trạng dư thừa, thiếu hụt nguồn cung cục bộ, ảnh hưởng tiêu cực đến giá trong nước, đồng thời tiếp tục đàm phán với cơ quan hữu quan các nước để mở cửa thị trường cho các sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam.

Nguồn: Báo nông nghiệp Việt Nam

 

 

Giá tôm hùm tăng trở lại  (30/10/2019)

Thời gian qua, người nuôi tôm hùm ở ở TX Sông Cầu, “thủ phủ” tôm hùm của Phú Yên, đối mặt với nhiều khó khăn do giá tôm xuống thấp, thương lái ép giá, môi trường vùng nuôi ô nhiễm. Từ tháng 8 đến nay, giá tôm bắt đầu tăng lại.

Ông Phan Văn Vĩnh, người nuôi tôm đầm Cù Mông (TX Sông Cầu) cho hay: Từ cuối tháng 7 đến nay giá tôm xanh được thương lái mua 720.000 đồng/kg, còn tôm hùm bông 1,3 triệu đồng/kg. Trước đó, những tháng đầu năm, có thời điểm giá tôm hùm xanh chỉ còn 500.000 đồng/kg, tôm hùm bông còn 1,1 triệu đồng/kg. Giá tôm tăng nhưng còn ở mức thấp, so với thời điểm cuối năm 2018, giá tôm xanh thương lái mua 1 triệu đồng/kg, tôm bông 1,8 triệu đồng/kg.

Giá tôm bắt đầu tăng lại nhưng vẫn thấp so với thời điểm cuối 2018, thế nhưng so với giá tôm thời điểm hiện nay người nuôi đã có lãi.

Ông Bùi Thành, một người nuôi tôm hùm ở vịnh Xuân Đài (TX Sông Cầu) chia sẻ: Nếu tôm xanh thành phẩm bán 720.000 đồng/kg, thì chi phí đầu tư hết 500.000 đồng/kg, người nuôi còn bỏ túi trên 200.000 đồng/kg. Thời điểm giá bán 500.000 đồng/kg thì không có lãi. Còn tôm hùm bông, nếu tôm thành phẩm bán 1,3 triệu đồng/kg, thì chi phí đầu tư hết 1,1 triệu đồng, người nuôi còn bỏ túi 200.000 đồng/kg. Thời điểm tôm bông hạ chỉ 1,1 triệu đồng thì người nuôi phủi tay về không.

Hiện nay vùng này chỉ 10% nuôi tôm hùm bông, 90% nuôi tôm hùm xanh. Lý do tôm hùm bông khan hiếm con giống lại nuôi thời gian dài gần 1 năm mới xuất bán, còn tôm hùm xanh nuôi 6-7 tháng.

Thời gian qua, nuôi tôm hùm gặp khó không chỉ giá thấp do Trung Quốc siết tiểu ngạch mà trong quá trình nuôi không được suôn sẻ vì nguồn nước ô nhiễm, tôm bị bệnh.

Ông Phan Văn Tấn, người nuôi tôm hùm ở vịnh Xuân Đài than vãn: Gần tháng nay, tôm hùm “rớt” rất nhiều vì bệnh, có bữa bè nuôi của tôi có chục con tôm hùm ngắc ngư bỏ ăn vì bệnh sữa.

Cũng theo ông Tấn, nếu tôm xanh thành phẩm bán 720.000 đồng/kg, trừ chi phí đầu tư người nuôi còn bỏ túi trên 200.000 đồng/kg, khi tôm hùm bệnh thì bán đổ bán tháo, chỉ 300.000 đồng/kg, người nuôi bù lỗ 200.000 đồng. Còn tôm bông nếu tôm thành phẩm bán 1,3 triệu đồng/kg, thì chi phí đầu tư hết 1,1 triệu đồng; khi tôm bệnh thì bán đổ bán tháo, chỉ 500.000 đồng/kg, người nuôi bù lỗ trên 600.000 đồng.

Theo Phòng Kinh tế TX Sông Cầu, từ đầu năm đến nay, người nuôi thả nuôi tôm hùm thịt ước khoảng 74.577 lồng. Sản lượng tôm hùm các loại ước đạt 756,2 tấn, với khoảng 27.500 lồng đã được thu hoạch. 

Bà Nguyễn Thị Xoàn, thương lái thu mua tôm hùm ở TX Sông Cầu cho hay: Trung Quốc cấm nhập hàng tiểu ngạch, chỉ cho nhập hàng chính ngạch. Do phần lớn tôm hùm hiện nay đều không có đầy đủ giấy tờ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ nên không thể xuất chính ngạch được. Tôm hùm không xuất được, đồng nghĩa giá giảm do chỉ bán thị trường trong nước.

Theo nhận định của Sở NN-PTNT Phú Yên, việc tự phát quá mức số lượng tôm hùm nuôi cũng là nguyên nhân làm cho giá tôm thương phẩm không ổn định, dễ bị ép giá khi vào mùa thu hoạch rộ.

Trước tình hình trên, để quản lý nghề nuôi tôm hùm trên địa bàn tỉnh Phú Yên theo hướng bền vững, hiệu quả, ngành Nông nghiệp tham mưu UBND tỉnh ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các địa phương tăng cường quản lý nghề nuôi tôm hùm theo đúng quy hoạch của tỉnh, đồng thời giao Sở NN-PTNT thực hiện dự án quy hoạch chi tiết vùng nuôi trồng thủy sản lồng, bè trên đầm, vịnh, triển khai giao mặt nước, sắp xếp, tổ chức quản lý vùng nuôi theo đúng quy hoạch, giải tỏa bớt lượng lồng, bè dôi dư.

TS Nguyễn Trọng Tùng, Giám đốc Sở NN-PTNT Phú Yên, cho biết: Sở phối hợp các địa phương tuyên truyền, triển khai các quy định quản lý mới trong nuôi trồng thủy sản, trong đó có các quy định hộ nuôi phải thực hiện đăng ký nuôi đối với nuôi thủy sản lồng bè và các đối tượng chủ lực, đăng ký chứng nhận nuôi trồng thực phẩm an toàn, đăng ký cấp phép nuôi biển.

Đây là cơ sở để hướng đến chứng nhận tính pháp lý cho các vùng nuôi theo quy hoạch, thực hiện được truy xuất nguồn gốc sản phẩm, đảm bảo các yêu cầu về xuất khẩu hàng chính ngạch cho các sản phẩm thủy sản không chỉ cho thị trường Trung Quốc mà các thị trường khó tính khác như Mỹ, EU.

Theo Ông Đỗ Văn Chính, Trưởng phòng Kinh tế TX Sông Cầu, về phía các địa phương cũng đang xúc tiến xây dựng các phương án sắp xếp lồng bè, thực hiện lộ trình giảm số lượng lồng nuôi. Cùng với đó, thành lập các tổ cộng đồng quản lý, hướng đến vận động thành lập các hợp tác xã nuôi tôm hùm nhằm tăng cường tự quản chất lượng, an toàn thực phẩm sản phẩm tôm hùm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

“Thời gian tới, Sở NN-PTNT sẽ phối hợp các địa phương vận động các cơ sở thu mua xây dựng các chuỗi liên kết với các hộ nuôi để chủ động quản lý chất lượng và nguồn cung hàng hóa, đáp ứng các yêu cầu để xuất khẩu tôm hùm chính ngạch sang Trung Quốc và các nước khác. Sở phối hợp các địa phương triển khai cấp phép nuôi biển, xác nhận đăng ký nuôi lồng bè và nuôi đối tượng chủ lực, chứng nhận cơ sở nuôi trồng thủy sản đủ điều kiện theo quy định hiện hành”, TS Nguyễn Trọng Tùng, Giám đốc Sở NN-PTNT Phú Yên.

Nguồn: Báo nông nghiệp Việt Nam

 

 

Nông dân miền Tây trồng chanh không lo đầu ra nhờ xuất khẩu sang Trung Quốc  (29/10/2019)

Những năm gần đây nông dân trồng chanh ở ĐBSCL rất phấn khởi vì bán giá cao. Đặc biệt chanh trồng VietGAP được xuất khẩu có mẫu mã đẹp, đồng đều, không tồn dư thuốc BVTV.

Kỹ thuật trồng chanh tứ quý VietGapThu nhập hàng trăm triệu/năm nhờ về làng thuê đất trồng chanh 4 mùa và táo ngọtTrồng chanh tứ quý trên gốc bưởi, thu tiền tỷTrồng chanh xuất khẩu sang Hàn Quốc

Theo nhiều hộ dân trồng chanh không hạt ở ĐBSCL, giống chanh này dễ trồng và cho trái quanh năm. Vườn chanh chăm sóc tốt có thể cho năng suất trái hơn 4 tấn/công.

Do chanh không hạt dễ trồng và bán được giá khá cao trong nước và cả xuất khẩu nên nông dân tại nhiều địa phương ở các tỉnh ĐBSCL đang phát triển trồng loại cây này.

Tuy nhiên cũng có rủi ro về đầu ra trong tương lai nếu nông dân sản xuất tự phát, thiếu hợp đồng liên kết sản xuất và bao tiêu của các doanh nghiệp và nhà tiêu thụ.

Chính vì vậy, loại trái cây này được ngành chức rất năng quan tâm, giúp nông dân nắm bắt cơ hội để  nâng cao thu nhập.

Thời gian qua, nhiều hộ dân trồng chanh có thể đạt lợi nhuận 30-40 triệu đồng/công

Chanh loại một loại trái cây được xuất khẩu sang nhiều thị trường như Hàn Quốc, Trung Đông và Trung Quốc với giá trung bình 15.000-25.000 đồng/kg (tùy vào thời điểm).

Ông Nguyễn Văn Chiến – Giám đốc HTX nông nghiệp Thạnh Phước (xã Đông Thạnh, huyện Châu Thành – Hậu Giang) cho biết: Hiện HTX có 84 xã viên, diện tích canh tác chanh không hạt trên 100ha.

HTX đã áp dụng tiêu chuẩn VietGAP vào quy trình sản xuất. Với sự giúp đỡ của Phòng NN-PTNT huyện Châu Thành, HTX tập trung bảo đảm 4 tiêu chí: kỹ thuật sản xuất, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, môi trường làm việc và truy nguyên nguồn gốc, xuất xứ.

Đến nay, HTX đã có 17,2 ha chanh không hạt được chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP, bảo đảm tiêu chuẩn an toàn để xuất khẩu và được Cục Sở hữu trí tuệ cấp chứng nhận thương hiệu Chanh không hạt Hậu Giang.

Hiện nay, HTX Thạnh Phước có 12 xã viên với diện tích canh tác 13ha chanh không hạt được Cty The Fruit – Republic (Hà Lan) cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn GlobalGAP và ký hợp đồng bao tiêu để xuất khẩu sang Singapore và Trung Quốc.

Mới đây, huyện Cao Lãnh (Đồng Tháp) nhận được tin vui là được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) công nhận nhãn hiệu chanh Cao Lãnh đảm bảo điều kiện chất lượng tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Mỗi năm cung ứng cho thị trường khoảng 26.000 tấn chanh. HTX chanh Cao Lãnh có 27,3 ha/41 hộ trồng chanh được chứng nhận sản xuất đạt tiêu chuẩn VietGAP. HTX này đã liên kết với Công ty In Jae (Hàn Quốc) để cung ứng chanh xuất khẩu, với số lượng 80 tấn chanh/tháng.

Việc xây dựng nhãn hiệu chanh Cao Lãnh nhằm bảo vệ giá trị đặc sản của địa phương gắn với tính pháp lý trong quan hệ thương mại. Đồng thời đây cũng là sự cam kết của người sản xuất đối với người tiêu dùng về uy tín, chất lượng cũng như độ an toàn của sản phẩm, phục vụ xuất khẩu, tăng thu nhập của người dân.

Những năm gần đây, chanh được xem là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân. Nhờ lợi nhuận từ cây chanh mà đời sống của nhiều hộ dân trên địa bàn huyện được cải thiện rất tốt. Số diện tích chanh hiện nay chắc chắn sẽ chưa dừng lại.

Chanh xuất khẩu đáp ứng tiêu chuẩn VietGAP, có mẫu mã và chất lượng đồng đều, trọng lượng bình quân 16-20 trái/kg, không tồn dư thuốc BVTV. Sau khi thu hoạch, chanh được kiểm tra dư lượng thuốc BVTV, đóng gói và hút chân không để mang đi xuất khẩu.

Nguồn: Báo nông nghiệp Việt Nam

 

 

Sức mua lúa giống tăng cao  (29/10/2019)

Thị trường lúa giống ở TP Cần Thơ khá sôi động do nông dân đang tất bật chuẩn bị gieo sạ vụ đông xuân 2019-2020. Sức mua tăng mạnh, nhưng nguồn cung có phần hạn chế, một số loại lúa giống đã tăng giá so với các tháng trước.

Giá bán lẻ nhiều loại lúa giống trên thị trường hiện tăng từ 500-1.500 đồng/kg so với cách nay hơn 1 tháng. Hiện giá lúa giống Jasmine 85, Đài Thơm 8 và VD 20 cấp xác nhận được nhiều trại giống và cơ sở sản xuất, kinh doanh lúa giống tại các quận, huyện ở TP Cần Thơ bán ra ở mức 11.500-15.000 đồng/kg; cấp nguyên chủng giá từ 14.500-18.000 đồng/kg. Các giống lúa như: IR 50404, OM 2517, OM 5451, OM 4218, OM 4900, OM 7347, OM 6976… cấp xác nhận có giá phổ biến từ 9.500-14.000 đồng/kg; cấp  nguyên chủng giá 13.500-17.000 đồng/kg. Lúa giống có thương hiệu của một số công ty, doanh nghiệp lớn có giá bán lẻ trên thị trường khá cao. Đơn cử, lúa giống OM 5451 và Jasmine 85 cấp xác nhận của Công ty Cổ phần Tập đoàn Lộc Trời (nhiều người gọi lúa giống Bình Đức) có giá bán lẻ 14.500 đồng/kg; cấp xác nhận tới 17.500 đồng/kg.

Theo nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh lúa giống ở TP Cần Thơ, sức mua nhiều loại lúa giống đã tăng hơn gấp đôi so với các tuần trước do có nhiều nông dân mua lúa giống chuẩn bị cho vụ lúa đông xuân 2019-2020. Tới đây, khả năng sức mua còn tăng cao, nhất là các loại giống lúa thơm và lúa hạt dài chất lượng cao như: Jasmine 85, Đài Thơm 8, OM 5451... bởi nguồn cung hạn chế vì các cơ sở sản xuất kinh doanh lúa giống không chuẩn bị nguồn hàng vì phải bỏ vốn nhiều và lo ngại khó bán hết. Nguyên nhân do nhiều loại lúa giống muốn có hàng bán vào thời điểm này, các cơ sở sản xuất kinh doanh lúa giống phải chuẩn bị từ vụ đông xuân 2018-2019 và vụ hè thu 2019, tốn nhiều chi phí bảo quản, nhất là đối với lúa thơm Jasmine 85. Ngoài ra, giá lúa giống tăng còn do gần đây mặt bằng giá lúa hàng hóa cũng đã nhích lên so với trước...

Dù vậy, nhìn chung giá nhiều loại lúa giống vẫn đang ở mức tương đương, thậm chí thấp hơn khoảng 500-1.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước, nhất là các loại lúa giống ít người mua như IR 50404. Ông Phạm Thành Văn, Chủ cơ sở kinh doanh lúa giống Tư Văn ở huyện Thới Lai, cho biết: "Hiện sức mua một số loại giống lúa thơm và lúa hạt dài chất lượng cao như: Jasmine 85, Đài Thơm 8, OM 5451... đã tăng hơn 40% so với cùng kỳ năm trước, khả năng còn tăng do nông dân chỉ tập trung chọn những giống lúa chất lượng cao này. Riêng sức mua lúa giống IR50404 tại cơ sở đã giảm khoảng 90% so với năm trước. Vụ lúa thu đông 2019, lúa IR 50404 không còn trúng mùa như trước, giá bán lại rẻ nên nhiều nông dân từ bỏ dần. Đây cũng là nguyên nhân góp phần làm cho nhiều giống lúa chất lượng cao hút hàng...".

Ông Huỳnh Văn Công ở xã Xuân Thắng, huyện Thới Lai, cho biết: vụ đông xuân tới đây, 25 công lúa của tôi sẽ gieo sạ lúa thơm Jasmine 85. Dự kiến khoảng mùng 10 tháng 10 âm lịch tôi sẽ xuống giống, nhưng từ giữa tháng 9 âm lịch đã tìm các cơ sở kinh doanh lúa giống có uy tín đặt mua lúa giống. Tôi đặt sớm nên mua được lúa giống Jasmine 85 cấp xác nhận chỉ với giá 11.500 đồng/kg, chứ hiện nay giá tới 12.500 đồng/kg, thậm chí có nơi cao hơn".

Theo ông Bùi Văn Giàu ở xã Thạnh Mỹ, huyện Vĩnh Thạnh, vụ này 10 công ruộng của ông dự kiến gieo sạ lúa Đài Thơm 8 (cấp xác nhận  12.000 đồng/kg) và hiện đã mua lúa giống để sẵn sàng gieo sạ. Nhìn chung, giá lúa giống có tăng so với các tháng trước nhưng vẫn ở mức chấp nhận được, nông dân chỉ mong lúa giống đảm bảo chất lượng, nảy mầm đồng đều, ít tốn công giặm lúa, đồng thời giúp lúa gạo hàng hóa đạt năng suất, chất lượng cao, bán được giá cao.

Vụ đông xuân 2019-2020, TP Cần Thơ có kế hoạch gieo trồng 79.770ha lúa. Lịch thời vụ xuống giống lúa dự kiến gồm 2 đợt: đợt 1 từ ngày 2 đến ngày 8-11 (nhằm ngày 6-10 đến 12-10 âm lịch); đợt 2 từ ngày 21 đến ngày 27-11 (nhằm ngày 25-10 đến 2-11 âm lịch). Ngành nông nghiệp thành phố khuyến cáo các địa phương cần tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn nông dân sử dụng giống lúa cấp xác nhận trở lên. Chú ý xây dựng cơ cấu giống lúa cho vụ đông xuân 2019-2020 đảm bảo yêu cầu cân đối, an toàn dịch bệnh và sử dụng giống bền vững, phù hợp thực tế sản xuất và thị trường, giữ tỷ lệ cơ cấu phù hợp với các giống chủ lực Jasmine 85, OM 5451, OM 4218, OM 2517, OM 7347. Giống lúa quyết định trong việc bố trí mùa vụ nên cần chọn các giống phù hợp cho vùng sản xuất 2 hoặc 3 vụ lúa/năm và đảm bảo thời gian cách ly giữa hai vụ lúa ít nhất 3 tuần. Mặt khác, nông dân nên gieo sạ thưa để tiết kiệm giống, khoảng 80-100 kg/ha.

Ngoài ra, nông dân cần quan tâm thực hiện tốt các khuyến cáo của ngành nông nghiệp, đặc biệt không nên tập trung vào sản xuất một loại lúa hàng hóa nào đó với số lượng quá nhiều khi chưa có hợp đồng bao tiêu đầu ra của doanh nghiệp. Điều này không chỉ giúp nông dân giảm các rủi ro về đầu ra mà còn tránh được tình trạng phải mua lúa giống đầu vào với giá cao.

Trên địa bàn TP Cần Thơ hiện có 124 cơ sở, hộ sản xuất và cung ứng lúa giống, năng lực cung ứng hơn 52.700 tấn lúa giống/năm. Hiện lúa giống sản xuất tại Cần Thơ không chỉ phục vụ cho nhu cầu tại thành phố mà còn cung ứng, đáp ứng nhu cầu cho nông dân tại nhiều tỉnh ĐBSCL.

Ông Trần Thái Nghiêm, Giám đốc Trung tâm giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản TP Cần Thơ, cho biết, đơn vị chuẩn bị hơn 2.000 tấn lúa giống các loại để phục vụ nông dân trong vụ đông xuân này, tăng 20% so với năm trước. Hiện giá nhiều loại lúa giống cấp xác nhận được Trung tâm cung ứng ra thị trường với chỉ từ 9.000-10.500 đồng/kg và cố gắng duy trì ổn định mức giá bán này.

Nguồn:  Báo Cần Thơ

 

 

Người trồng mía kêu cứu  (29/10/2019)

Mỗi ngày chỉ thu hoạch khoảng 10ha, trong khi nhu cầu cần đốn lên đến hơn 200ha và hiện có nhiều diện tích mía đã quá ngày thu hoạch đang dần chết khô ngoài đồng. Từ đó, tạo ra áp lực không nhỏ cho nông dân tại vùng mía nguyên liệu lớn nhất của tỉnh là huyện Phụng Hiệp trong lúc này.

Những ngày qua, bà Thái Thị Tuyết Hoa cùng nhiều nông dân trồng mía tại ấp Quyết Thắng B, xã Hiệp Hưng, huyện Phụng Hiệp, đứng ngồi không yên vì cánh đồng mía phía sau nhà đã quá ngày thu hoạch gần một tháng. Hiện lá và đọt mía cũng bắt đầu khô dần, nhưng thương lái thì đến thu mua nhỏ giọt vì phải phụ thuộc vào sự chi phối của nhà máy đường.

Bà Hoa bức xúc cho biết: “Năm nay, Công ty Cổ phần Mía đường Cần Thơ (Casuco) áp dụng chính sách mới trong thu mua mía là nông dân phải bán mía trực tiếp qua thương lái được Casuco hợp đồng vận chuyển mía từ trước, còn bà con nào bán cho thương lái bên ngoài thì Casuco không tiếp nhận mía. Do đó, số lượng thương lái đến đây mua mía trong lúc này rất ít. Bởi, hiện trên địa bàn tỉnh chỉ có mỗi Nhà máy đường Phụng Hiệp (thuộc Casuco) là còn hoạt động, trong khi bà con thì rất cần được bán mía sớm vì mía sắp chết khô ngoài đồng. Riêng gia đình tôi có 4 công mía (giống ROC 16) hiện cũng bị khô đọt khá nhiều và việc giảm năng suất khi thu hoạch sẽ khó tránh khỏi”.

Theo nhiều người dân trồng mía sống dọc tuyến kênh Bảy Mũ, thuộc ấp Quyết Thắng B, xã Hiệp Hưng thì vào thời điểm này mọi năm, tuy giá mía thấp như năm nay nhưng không khí bán mía của bà con nơi đây cũng khá sôi nổi vì có đông thương lái đến thu mua. Cụ thể, toàn tuyến kênh Bảy Mũ này dài khoảng 1,3km nhưng mỗi ngày có ít nhất 20 ghe với tải trọng từ 50-70 tấn đậu dọc theo kênh để cân mía cho nông dân. Đồng thời, kéo theo đó là mỗi ngày khu vực này cũng có không dưới 200 nhân công đốn và vận chuyển mía từ rẫy ra bãi cân. Còn năm nay, do Casuco thay đổi chính sách thu mua nên mỗi ngày, toàn tuyến chỉ có 3-4 hộ được bán mía, từ đó diện tích mía chưa thu hoạch còn khá nhiều.

Cùng tâm trạng lo lắng như người trồng mía ở xã Hiệp Hưng, bà Nguyễn Thị Biểu, ở ấp Long Trường, xã Hòa Mỹ, huyện Phụng Hiệp, có 7 công mía (giống ROC 16) hiện đã hơn 11 tháng tuổi nhưng chưa được thu hoạch. Bà Biểu thông tin: “Năm nay, giá mía đã thấp làm người dân lo lắng lắm rồi, ai dè đến ngày đốn mía mà kiếm thương lái chẳng thấy ở đâu thì gánh nặng thêm chồng chất. Giờ mía ngoài ruộng bị khô đọt và xuống lá rất nhiều. Chỉ mong ngành chức năng sớm có giải pháp hối thúc nhà máy đường đẩy nhanh tiến độ mua mía cho nông dân”.

Qua theo dõi của ngành nông nghiệp huyện Phụng Hiệp, bình quân mỗi ngày, toàn huyện chỉ có khoảng 30-40 ghe đến cân mía nên nông dân trên địa bàn huyện chỉ thu hoạch khoảng 10ha mía/ngày, trong khi tổng diện tích mía của toàn huyện trong vụ này là 6.449ha. Với tiến độ thu hoạch mía rất chậm nên đến thời điểm này, mía đã đốn để bán cho nhà máy đường chỉ chiếm khoảng 20% diện tích, trong khi cùng kỳ năm trước đã hơn 60%.

“Do nhà máy đường vào vụ ép trễ hơn năm trước gần một tháng đã dẫn tới tình trạng mía đang bị ùn ứ ngoài đồng khá nhiều, vì hầu hết các diện tích mía hiện nay đều đã quá ngày và trong giai đoạn cần thu hoạch. Trường hợp tiếp tục kéo dài thêm thời gian nằm chờ ngoài đồng thì địa phương lo lắng mía của nông dân sẽ bị thiệt hại do bị chết cây. Chính vì vậy, nhu cầu của huyện trong lúc này là mỗi ngày cần thu hoạch hơn 200ha mía. Trước tình hình trên, địa phương đề nghị nhà máy đường có giải pháp tăng cường công suất ép mía và số lượng ghe thu mua trong dân để tăng diện tích mía được thu hoạch trong thời gian tới”, ông Trần Văn Tuấn, Trưởng phòng NN&PTNT huyện Phụng Hiệp, cho hay.   

Mặc dù ngành chức năng huyện Phụng Hiệp và người dân đang kiến nghị Casuco tăng cường công suất ép để tiêu thụ mía được nhanh. Tuy nhiên, giải pháp này chưa thật sự là trọng tâm. Bởi trước đây, khi vào vụ ép mía thì trên địa bàn tỉnh có đến 3 nhà máy đường hoạt động, với tổng công suất ép gần 9.000 tấn mía cây/ngày/đêm. Tuy nhiên, với nhiều lý do khác nhau nên trong vụ ép 2019-2020 này, Hậu Giang chỉ còn có một Nhà máy đường Phụng Hiệp hoạt động, với công suất ép 3.500 tấn mía cây/ngày/đêm, tương đương chỉ khoảng 30-35ha mía nhưng phải chạy hết công suất. Trong khi tổng diện tích mía đã xuống giống trên địa bàn tỉnh ở niên vụ 2019-2020 này là gần 8.200ha và hiện mới thu hoạch được gần 2.000ha (chủ yếu bán mía chục làm nước ép giải khát) nên phải mất thời gian khá lâu nữa mới tiêu thụ hết mía cho nông dân Hậu Giang. Do đó, thiết nghĩ giải pháp hữu hiệu trong lúc này là lãnh đạo Casuco xem xét vào vụ ép tiếp tại 2 nhà máy đường khác có cổ phần lớn của Casuco là Nhà máy đường Sóc Trăng và Trà Vinh. Có như vậy, Casuco sẽ góp phần giải quyết nhanh diện tích mía đang rất cần được thu hoạch trong lúc này cho nông dân Hậu Giang để giảm thiệt hại…

Nguồn:  Báo Hậu Giang