CỔNG THÔNG TIN SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG
nông nghiệp an giang
Điểm tin thị trường

Tin thị trường ngày 08/10/2019

09:00 08/10/2019

Tắc đường sang Trung Quốc, thủy sản rớt giá - Chanh đào 50 ngàn đồng một kg - Giá gà 'rớt thảm', ngành chăn nuôi gia cầm nói do lỗi Tổng cục Thống kê - Cà na hút hàng trong mùa nước nổi - Vĩnh Long: Lúa IR50404 chỉ còn khoảng 80.000 đồng/giạ - Cần Thơ: Giá phân bón giảm.

 

Tắc đường sang Trung Quốc, thủy sản rớt giá  (08/10/2019)

Người nuôi cá bống bớp, ngao và các chủ tàu đánh bắt hải sản tại Nam Định đang gặp khó khăn, khi sản phẩm không thể xuất đi Trung Quốc.

Khu nuôi trồng thủy sản của anh Nguyễn Như Ngọc (xã Nam Điền, huyện Nghĩa Hưng, Nam Định) rộng 1ha, được chia thành 6 ao nuôi cá bống bớp. Thời điểm này, 3 ao đang được tháo cạn nước bởi càng nuôi càng lỗ.

Từ năm 2018 trở về trước, giá cá bống bớp giữ ổn định khoảng 260.000 đồng/kg, thậm chí có thời điểm lên tới 330.000 đồng. Tuy nhiên, từ năm 2019, giá bống bớp giảm sâu (từ 170.000 – 200.000 đồng/kg tùy loại).

Trong khi đó, giá thành sản xuất 1kg cá bống bớp khoảng 200.000 đồng, nuôi hơn 1 năm mới được thu hoạch.

Do thua lỗ, nhiều chủ ao ở thị trấn Rạng Đông và xã Nam Điền đã phải chuyển sang nuôi cá mú, bởi đây là đối tượng có giá trị kinh tế cao, tiêu thụ nội địa tốt, không phụ thuộc vào biến động thị trường nước ngoài.

Không chỉ các hộ dân nuôi cá bống bớp thương phẩm gặp khó, các cơ sở ương nuôi cá giống và doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản cũng đang chật vật. “Hiện cá bống bớp giống chỉ 3.000 đồng/con (giảm 50% so với cùng kỳ năm ngoái), thế nhưng đầu ra hạn chế do người nuôi không mặn mà”, ông Nguyễn Văn Sơn (khu 6, thị trấn Rạng Đông, huyện Nghĩa Hưng) chia sẻ.

Khu sản xuất cá giống của gia đình ông Sơn gồm 150 bể và 40 ao ương nuôi, nhưng 2/3 bể đã “treo” nhiều tháng nay. Ngoài sản xuất cá giống, ông Sơn còn liên kết với khoảng 300 hộ nuôi cá bống bớp để xuất khẩu sang Trung Quốc. Những năm trước, khi Trung Quốc chưa siết chặt hoạt động thương mại theo đường tiểu ngạch, mỗi ngày ông Sơn xuất khoảng 2 – 3 tấn bống bớp cho đối tác nước bạn. Vậy nhưng, thời điểm này mỗi ngày ông chỉ xuất bán được khoảng 400 – 500kg. 

Người dân Trung Quốc thích ăn bống bớp vì thịt có độ đạm cao; loài cá này sống rất khỏe, khi đóng vào thùng xốp, vận chuyển 2 ngày từ Nam Định sang chợ đầu mối Đông Hưng (Trung Quốc) mà không chết. Trong khi đó, người tiêu dùng nước bạn lại ưa chuộng thực phẩm tươi sống để chế biến món ăn.

Theo ông Sơn, khi Trung Quốc chưa “đóng biên” đối với sản phẩm xuất theo đường tiểu ngạch, đưa hàng sang bao nhiêu họ cũng mua hết. Tuy nhiên, từ năm nay, đánh hàng sang Trung Quốc khó khăn vô cùng.

Tắc đầu ra, doanh nghiệp của ông Sơn buộc phải giảm thu mua cá của bà con (từ 40 – 50 tấn/tháng xuống còn 10 – 15 tấn/tháng). Số hàng trên chủ yếu được bán tại thị trường nội địa.

Theo ông Khương Văn Toàn - Phó Trưởng phòng NN-PTNT huyện Nghĩa Hưng: Giai đoạn 2015 - 2017, toàn huyện có hơn 400 ha mặt nước nuôi cá bống bớp, sản lượng bình quân khoảng 1.200 – 1.300 tấn. Nhưng đến năm 2019, diện tích nuôi cá bống bớp chỉ còn khoảng 200 ha do các doanh nghiệp thu mua, xuất khẩu sang Trung Quốc gần như “đóng băng”.

Ông Sơn cho biết, có nhiều nguyên nhân khiến con cá bống bớp chưa thể thông quan chính ngạch sang Trung Quốc. Thứ nhất, cá bống bớp chưa nằm trong danh mục thủy sản xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc. Thứ hai, các lô sản phẩm xuất khẩu sang Trung Quốc phải truy xuất được nguồn gốc xuất xứ (nuôi tại các vùng đã được cấp mã số). Thứ ba, phải tuân thủ quy cách đóng gói, tem nhãn, mã vạch theo yêu cầu của phía bạn. Thứ tư, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam phải được Trung Quốc chấp thuận.

Mặc dù chúng tôi đã được Sở NN-PTNT Nam Định mời tham dự các hội nghị tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản sang thị trường Trung Quốc, do Bộ NN-PTNT phối hợp với các đơn vị, địa phương triển khai. Tuy nhiên, đối với từng khâu cụ thể để giải quyết khó khăn, thì còn rất nhiều vướng mắc. 

Cùng chung cảnh ngộ, Công ty kinh doanh hải sản Thành Vui (huyện Hải Hậu, Nam Định) của ông Đỗ Văn Thành cũng đang gặp khó khăn do không thể xuất khẩu qua các cửa khẩu biên giới Việt – Trung.

Theo chủ doanh nghiệp này, trước đây mỗi ngày công ty xuất khẩu 20 – 30 tấn hải sản (chủ yếu là cá thu, cá đao) qua đường tiểu ngạch. Tuy nhiên từ cuối năm 2018, các mặt hàng thủy sản này đều bị tắc, không thể thông quan được qua biên giới. Dù đã cố gắng hết sức để tiêu thụ nội địa, nhưng đầu ra trong nước có hạn, không thể giải phóng hàng hóa khổng lồ như vậy.

Ông Thành cho biết, công ty được đầu tư xây dựng cảng và quản lý rất chặt chẽ. Do đó đảm bảo quy trình truy xuất nguồn gốc hải sản khai thác rõ ràng. Ngay sau khi tàu khai thác cập cảng, cá được đưa vào kho lạnh tại chỗ để bảo quản, giữ được độ tươi ngon.

"Chúng tôi khẳng định có thể đáp ứng tất cả yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, quy cách đóng gói, bao bì sản phẩm và tem nhãn, đảm bảo an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, có nhiều thủ tục ngoài phạm vi quyền hạn và khả năng của doanh nghiệp, đó là mặt hàng cá thu, cá đao chưa có trong danh mục được xuất khẩu chính ngạch vào thị trường Trung Quốc. Do đó, chúng tôi đang rơi vào tình cảnh lực bất tòng tâm”, ông Thành nói.

Công ty Thành Vui có 7 kho lạnh, tổng công suất trữ khoảng 500 tấn, nhưng thời điểm này lượng hàng ứ đọng trong kho khoảng 400 tấn. Trước đây, ông Thành thu mua ổn định hải sản của 10 tàu khai thác cá, bây giờ phải cắt thu mua của 3 tàu.

Giá bán cá không đủ chi phí khai thác, hàng chục tàu cá đóng theo Nghị định 67 buộc phải nằm bờ, neo đậu cách cảng cá của Công ty Thành Vui khoảng 200m.

Theo các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tại Nam Định, đây là câu chuyện rất trớ trêu trong hoạt động thương mại. Bởi, trong khi thị trường Trung Quốc đang rất cần nhập khẩu, thì các vùng nuôi trồng thủy sản, tàu khai thác hải sản lại chịu cảnh rớt giá.

Trong những năm qua, các sản phẩm thủy sản của Việt Nam nói chung, tỉnh Nam Định nói riêng xuất khẩu theo đường tiểu ngạch sang Trung Quốc rất nhiều. Nhưng, việc đàm phán giữa Việt Nam và Trung Quốc để bổ sung các mặt hàng nông sản vào danh mục được phép xuất khẩu chính ngạch còn rất ít.

Bà Nga lấy ví dụ, đối với Nam Định, sản lượng ngao đạt 30 – 50 ngàn tấn/năm; sứa biển khoảng 11 – 12 ngàn tấn/năm... Thị trường tiêu thụ các sản phẩm trên chủ yếu là Trung Quốc. Nhưng từ khi bị Trung Quốc “cấm biên”, các doanh nghiệp xuất khẩu, nông dân và ngư dân gặp rất nhiều khó khăn. Sở NN-PTNT đã có văn bản đề nghị với các Bộ, ngành liên quan đẩy mạnh các hoạt động đàm phán với Trung Quốc, để đa dạng hóa các loại nông sản, thủy sản vào danh mục được phép xuất khẩu chính ngạch vào nước bạn.

Theo bà Phạm Thị Thoa, Trưởng phòng Chế biến thương mại nông sản (Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm thủy sản Nam Định), cần phải xác định Trung Quốc là thị trường rất khó tính và hoạt động theo nguyên tắc thương mại Quốc tế. Các doanh nghiệp xuất khẩu sang Trung Quốc phải được chứng nhận tiêu chuẩn HACCP (hệ thống quản lý mang tính phòng ngừa nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm); truy xuất nguồn gốc và kiểm soát tồn dư các chất độc hại trong sản phẩm (ví dụ như hàn the, urê...).

Tuy nhiên, đến nay tỉnh Nam Định mới có 9 doanh nghiệp chế biến được chứng nhận tiêu chuẩn HACCP, do đó Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm thủy sản đang lỗ lực đồng hành, hướng dẫn các doanh nghiệp để xây dựng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, đáp ứng yêu cầu của các quốc gia nhập khẩu, trong đó có Trung Quốc.

Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam

 

 

Chanh đào 50 ngàn đồng một kg  (07/10/2019)

Chanh đào tại TPHCM được bán với giá 50.000 – 55.000 đồng/kg.

Chanh đào, loại quả quen thuộc của miền Bắc, khi vào TPHCM giá bán tăng gấp đôi nhưng vẫn được nhiều người chọn mua.

Đường Cộng Hòa (quận Tân Bình) là nơi thường bán các loại trái cây vùng miền khác, hiện có nhiều xe đẩy đã bắt đầu bán chanh đào. Giá chanh hiện đã giảm nhẹ so với tháng trước.

Tại các cửa hàng trái cây, loại chanh đẹp, vỏ mỏng mọng nước, trái to tròn, ruột đỏ, giá dao động từ 55.000 – 65.000 đồng/kg. Như vậy, so với chanh giấy, giá chanh đào mắc khoảng gấp đôi.

Năm nay, xu hướng người dân thành phố hiện muốn mua chanh tươi để có thể pha nước hoặc tự tay ngâm mật ong tăng cao. Vỏ chanh đào được cho là chứa nhiều tinh dầu, dùng để trị ho, cảm cúm, hạ sốt…

Nguồn: Voh.com.vn

 

 

Giá gà 'rớt thảm', ngành chăn nuôi gia cầm nói do lỗi Tổng cục Thống kê  (07/10/2019)

Mới đây, tại một cuộc họp, Hiệp hội chăn nuôi gia cầm Việt Nam cho rằng, tình trạng chăn nuôi vượt quá nhu cầu của thị trường là… do lỗi của Tổng cục Thống kê đã tính sai vòng đời con gà trong 1 năm.

Giá gà công nghiệp liên tục giảm từ đầu năm đến nay và đến tháng 9.2019, giá gà đã giảm đến mức đáng báo động. Theo ông Lê Văn Quyết - Phó Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi gia cầm Đông Nam bộ, giá gà trắng nuôi công nghiệp hiện chỉ ở mức từ 13.000 đến 14.000 đồng/kg. Với giá bán này, người nuôi đang lỗ từ 10.000 đến 12.000 đồng/kg.

Tại các tỉnh phía Bắc, giá gà công nghiệp cũng giảm xuống chỉ còn từ 19.000 - 21.000 đồng/kg.

Mặc dù giá gà lông ở mức rất thấp, nhưng đến thời điểm  này, giá thịt gà công nghiệp trên thị trường cả nước vẫn ở mức 65.000 đồng/kg (nguyên con); thịt đùi, cánh gà công nghiệp: 90.000 đồng/kg, thịt lườn: 50.000 đồng/kg. Với mức giá này, thương lái vẫn lãi đậm trong khi người chăn nuôi thua lỗ nặng nề.

Theo Hiệp hội chăn nuôi gia cầm Việt Nam, giá gà “rớt thảm” là do lượng thịt gà nhập khẩu tăng cao từ đầu năm đến nay.

TS Nguyễn Thanh Sơn - Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi gia cầm Việt Nam cho biết: Hiệp hội đã làm việc với các ngành liên quan và có số liệu chính xác là số lượng thịt gia cầm nhập khẩu 8 tháng đầu năm 2019 là 98.462.000 tấn tăng so với cùng kỳ năm ngoái hơn 4 lần. Đây là một sự tăng trưởng đột biến và là nguyên nhân khiến việc tiêu thụ gà trong nước gặp khó khăn lớn.

Tuy nhiên, từ các nguồn thông tin đa chiều, tình trạng giá gà liên tục lao dốc chủ là do “cung” vượt “cầu”, khi số lượng gà công nghiệp chăn nuôi đã vượt quá nhu cầu tiêu thụ của thị trường; trong khi đó, lượng thịt gà ngoại vẫn tiếp tục được nhập về.

Theo ông Nguyễn Văn Ngọc - Phó chủ tịch Hiệp hội Gia cầm miền Đông, giá gà giảm là do giới chăn nuôi nhận định sai. Khi dịch tả lợn Châu Phi hoành hành, giới chăn nuôi gà cho rằng nhiều người sẽ không ăn thịt heo, chuyển sang thịt gà nên ồ ạt tăng đàn; mỗi tuần khu vực phía Nam xuất chuồng đến 2,5 triệu con gà, trong khi thời điểm bình thường chưa tới 2 triệu con.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đồng Nai cũng xác nhận, do ảnh hưởng của bệnh dịch tả lợn Châu Phi nên nhiều hộ chăn nuôi lợn trước đây đã chuyển sang nuôi gà làm tổng đàn tăng nhanh. Thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đồng Nai cho thấy, hiện đàn gà của địa phương này đạt gần 25 triệu con, tăng gần 17% so với thời điểm tháng 4.2019.

Còn theo nhiều hộ chăn nuôi, lỗi một phần thuộc về Cục Chăn nuôi, khi cục này khuyến khích người chăn nuôi tăng đàn để bù vào lượng thịt lợn thiếu hụt do dịch tả lợn Châu Phi.

Người chăn nuôi có thể tính được tổng lứa gà trong một năm, chứ không bị động phụ thuộc vào nhận định hay thống kê của Tổng cục Tống kê, nên đổ lỗi do Tổng cục Thống kê tính sai. khiến lượng gà vượt cầu là không công bằng.

Tuy nhiên, về phía mình, Cục Thống kê cũng nên xem xét lại cách tính tổng số lứa gà trong 1 năm cho sát thực tế.

Nguồn: Báo Lao Động

 

 

Cà na hút hàng trong mùa nước nổi  (06/10/2019)

Mùa nước nổi, cà na trở thành một trong những món đặc sản thu hút người mua. Nhờ vậy nhiều hộ trồng và bán cà na thành phẩm có nguồn thu nhập khá…

Đều đặn mỗi ngày, chị Hiền, ở xã Phú Bình (Phú Tân) kiếm được bình quân 1,5 triệu đồng từ trái cà na tươi. Chị cho biết, gia đình trồng 80 cây cà na ven ruộng làm kinh tế. Mùa nước nổi, khách đặt hàng mua rất nhiều từ trái tươi đến các món qua chế biến.

Giống cà na Thái nhà chị trồng cho năng suất rất cao, cành nào cũng sai trái chi chít, quả to, thịt dày, ít vị chua chát so với cà na dại.

Cây trổ bông kết trái liên tục, nên thu hoạch được quanh năm. Hiện, mỗi ngày chị Hiền thu hoạch được 60kg trái tươi, giá bán 30.000 - 40.000 đồng/kg. Chị nói: “trồng cà na rất “khỏe”, cây phát triển trong điều kiện tự nhiên, ít sâu bệnh, không cần bón phân, xịt thuốc, nên được xem là thực phẩm sạch…”.

Đáp ứng nhu cầu của người dân, chị còn chiết nhánh, bán 100.000 đồng/nhánh cho hộ có nhu cầu lập vườn. Bình quân 1 cây trưởng thành có thể chiết được đến chục nhánh, mà không ảnh hưởng đến năng suất ra trái.

Ngoài ra, chị Hiền còn chế biến cà na thành món ướp chua ngọt, ngào đường- món ăn vặt được ưa thích trong mùa nước nổi… bán với giá 70.000 đồng/kg, tiêu thụ khoảng 20kg/ngày.

Nguồn: Tin tức Miền Tây

 

 

Vĩnh Long: Lúa IR50404 chỉ còn khoảng 80.000 đồng/giạ  (05/10/2019)

Nếu thời điểm này năm ngoái giá lúa tươi tại ruộng giống IR50404 từ 4.400 - 4.600 đồng/kg, thì hiện chỉ còn 4.000 đồng; giống OM 5451 từ 5.300 - 5.500 đồng/kg, hiện cũng chỉ khoảng 5.000 đồng. Lúa rớt giá, năng suất vụ này rất thấp, trung bình 18 - 20 giạ/công (1.000m²) nên nông dân gặp nhiều khó khăn.

Theo nhận định, giá lúa giảm không chỉ do ảnh hưởng bởi giá gạo xuất khẩu giảm mà do nhiều tỉnh - thành vùng ĐBSCL đang bước vào thu hoạch rộ lúa Thu Đông làm nguồn cung lúa hàng hóa tăng. Ngoài ra, một số nơi gieo sạ lúa chất lượng thấp tăng mạnh nên ảnh hưởng đến giá cả.

Theo Sở Nông nghiệp- PTNT tỉnh Vĩnh Long, vụ lúa Thu Đông năm nay, cơ cấu giống lúa các giống nhóm chất lượng cao chiếm tỷ lệ 56,62% tổng diện tích xuống giống là 47.395,6ha, giảm 8,74% nhưng các giống chất lượng thấp như: IR50404 và ML202 chiếm tỷ lệ 38,87%, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,69%.

Nguồn: Báo Vĩnh Long

 

 

Cần Thơ: Giá phân bón giảm  (05/10/2019)

Do nguồn cung dồi dào và nhu cầu tiêu thụ giảm, giá nhiều loại phân bón trên thị trường như: Urê, DAP, NPK... hiện giảm khoảng 5.000 - 10.000 đồng/bao so với cách nay hơn 1 tháng.

Tại nhiều cửa hàng vật tư nông nghiệp ở TP Cần Thơ và các tỉnh lân cận như: Hậu Giang, Vĩnh Long, An Giang,  các loại Urê Phú Mỹ, Urê Cà Mau (Đạm Cà Mau), Urê Ninh Bình và Urê Hà Bắc có giá phổ biến từ 350.000 - 390.000 đồng/bao. Giá DAP Trung Quốc loại hạt nâu: 540.000 - 545.000 đồng/bao; DAP Trung Quốc loại hạt xanh giá 625.000 - 630.000 đồng/bao; DAP Hàn Quốc khoảng 690.000 - 700.000 đồng/bao. Trong khi đó, giá phân bón NPK 16-16-8 Việt Nhật ở mức 455.000 - 460.000 đồng/bao; NPK 20-20-15 Đầu Trâu 590.000 - 600.000 đồng/bao; Kali (Nga, Canada, Israel) có giá khoảng 380.000 - 400.000 đồng/bao...

Ngoài ra, nhu cầu mua phân bón phục vụ cho sản xuất lúa tại nhiều tỉnh, thành vùng ĐBSCL cũng không còn nhiều do nông dân đang bước vào thu hoạch lúa thu đông 2019. Thời điểm này là mùa lũ, nông dân cũng hạn chế mua phân bón để sử dụng cho các loại cây trồng khác, nhất là cây ăn trái.

Nguồn; Báo Cần Thơ