CỔNG THÔNG TIN SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG
nông nghiệp an giang
Điểm tin thị trường

Tin thị trường ngày 29/03/2019

09:00 29/03/2019

Dịch ASF tiếp tục lan rộng tại miền Trung, giá heo miền Bắc tăng nhẹ - Hoa quả Việt muốn 'chinh phục' thế giới thì phải sạch - Giá gạo xuất khẩu Thái Lan tăng nhờ nhu cầu nội địa khởi sắc - Giá cá tra nguyên liệu trở về điểm “hòa vốn” - 'Cơn sốt' mít Thái và câu chuyện thị trường .

 

Dịch ASF tiếp tục lan rộng tại miền Trung, giá heo miền Bắc tăng nhẹ  (29/03/2019)

Giá heo hơi báo tăng nhẹ tại một số địa phương miền Bắc, sau khi có thông tin các công ty chăn nuôi lớn sẽ điều chỉnh tăng giá trong hai ngày liên tiếp. Bên cạnh đó, lượng heo về chợ đầu mối vẫn thấp, giúp hoạt động tiêu thụ diễn ra vẫn thuận lợi.

Giá heo hơi hôm nay tại miền Bắc tăng nhẹ 500 - 1.000 đồng/kg

Theo ghi nhận, giá heo hơi tại Phú Thọ tăng nhẹ 500 đồng/kg; Bắc Giang, Hà Nam tăng thêm 500 - 1.000 đồng/kg lên khoảng 33.000 - 36.000 đồng.

Tuy nhiên, tại một số địa phương giá heo hơi chưa thể phục hồi, như Hưng Yên báo vẫn dao động trong khoảng 30.000 - 33.000 đồng/kg; Thái Bình có nơi ghi nhận ở mức 31.000 đồng/kg.

Tại các trại chăn nuôi heo lớn, giá heo hơi đã được điều chỉnh tăng 1.000 đồng/kg trong ngày 28/3, và sẽ tiếp tục tăng thêm 500 đồng/kg trong ngày hôm nay (29/3). Cùng với đó, theo các hộ chăn nuôi, thương lái tiếp tục gọi tới bắt heo. Đây có thể coi là dấu hiệu tích cực sau một thời gian dài giá heo tại khu vực lao dốc.

Về diễn biến dịch tả heo châu Phi (ASF), virus đã lan tới xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Theo thông tin ban đầu, dịch ASF xuất hiện trên đàn heo của một hộ dân ở xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, giáp ranh huyện Phong Điền của tỉnh Thừa Thiên Huế, địa phương công bố nhiễm virus ASF hôm 22/3.

Giá heo hơi hôm nay tại miền Trung, Tây Nguyên lặng sóng

Sau khi giảm mạnh 4.000 - 5.000 đồng/kg trong ngày hôm trước, giá heo hơi tại khu vực ổn định trở lại, dao động trong khoảng 31.000 - 38.000 đồng/kg.

Trong đó, mức giá 31.000 - 33.000 đồng/kg chủ yếu được ghi nhận tại các tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ như Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Các địa phương thuộc xuôi về phía Nam có mức giá tốt hơn một chút, đạt 37.000 - 38.000 đồng/kg.

Tại Tây Nguyên, giá heo hơi một vài nơi báo giảm khoảng 1.000 đồng/kg xuống 37.000 - 38.000 đồng/kg.

Giá heo hơi hôm nay tại miền Nam ổn định

Với tình hình tiêu thụ heo tại chợ đầu mối tốt hơn, giá heo hơi tại khu vực cũng có chuyển biến tích cực những ngày gần đây.

Hiện tại, giá heo hơi tại các tỉnh Đồng Nai, TP HCM, Bình Dương, Bến Tre, Đồng Tháp ... dao động trong khoảng 39.000 - 41.000 đồng/kg. Tại Bến Tre, Cần Thơ, Tiền Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Vĩnh Long heo hơi được thu mua trong mức 41.000 - 45.000 đồng.

Nguồn:  Kinh tế & Tiêu dùng

 

 

Hoa quả Việt muốn 'chinh phục' thế giới thì phải sạch  (29/03/2019)

Để trái cây Việt Nam "chinh phục" tốt hơn thị trường xuất khẩu, thì bên cạnh việc đàm phán mở cửa thị trường, sản xuất theo quy trình sạch, không lạm dụng phân thuốc hóa học là một đòi hỏi tất yếu...

Ngoài việc mở cửa thị trường, thì sản xuất sạch là đòi hỏi tất yếu để trái cây Việt Nam "chinh phục" thị trường xuất khẩu. Trong ảnh là nhân công đóng gói xoài xuất khẩu tại một doanh nghiệp. Ảnh: Trung Chánh

Trao đổi với báo chí bên lề hội thảo khoa học “Sản xuất cây ăn quả bền vững” được tổ chức vào hôm qua, 28-3, tại tỉnh Tiền Giang, ông Lê Văn Thiệt, Phó cục trưởng Cục bảo vệ thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, để gia tăng xuất khẩu trái cây, bắt buộc Việt Nam phải đàm phán mở cửa thị trường.

Theo đó, ông Thiệt cho biết, đối với những thị trường khó tính như Úc, Mỹ, New Zealand, thậm chí ngay cả Trung Quốc, hiện muốn gia tăng xuất khẩu bắt buộc phải nộp hồ sơ mở cửa thị trường, trong đó, nội dung quan trọng cần phải làm là phân tích nguy cơ dịch hại. “Việc này đòi hỏi phải họp song phương rất nhiều lần và để một hồ sơ được thị trường chấp nhận mở cửa cho trái cây Việt Nam sang, thì mất thời gian rất lâu, từ 3-15 năm”, ông Thiệt cho biết.

Ngoài hàng rào về kiểm dịch thực vật như trên, theo ông Thiệt, một số nước còn thiết lập hàng rào an toàn thực phẩm, trong đó, nhấn mạnh đến dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. “Nhìn chung, hiện nay các nước có quy định về mức dư lượng tối đa cho phép dựa vào mức quy định của Codex (Tiêu chuẩn của Ủy ban tiêu chuẩn thực phẩm Codex quốc tế- PV), nhưng thực tế họ thường quy định thấp hơn mức của Codex để tạo rào cản cho hàng hóa khó nhập khẩu cũng như để bảo hộ hàng hóa trong nước của họ”, ông cho biết.

Tuy nhiên, theo ông Thiệt, trước khi mở cửa thị trường, cho phép Việt Nam xuất khẩu vào, thì nước nhập khẩu yêu cầu Việt Nam phải thiết lập vùng trồng (diện tích tối thiểu 10 héc ta) và vùng trồng đó phải được cấp mã số.

Báo cáo của Cục bảo bệ thực vật cho thấy, đối với các thị trường khó tính như: Mỹ, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand, Đài Loan…, thì tính đến hết năm 2018, thanh long được cấp 210 mã số vùng trồng với tổng diện tích trên 4.000 héc ta; chôm chôm được cấp 34 mã số với diện tích trên 349 héc ta; nhãn được cấp 61 mã số với diện tích 864 héc ta; xoài được cấp 84 mã số, có diện tích 1.679 héc ta...

Trong khi đó, riêng với thị trường Trung Quốc, tính đến hết năm 2018, thanh long được cấp 230 mã số vùng trồng với diện tích trên 45.500 héc ta; nhãn cấp 194 mã số với diện tích 9.920 héc ta; vải được cấp 165 mã số với trên 16.400 héc ta; dưa hấu có 157 mã số được cấp với diện tích trên 12.200 héc ta; chuối có 219 mã số với trên 20.800 héc ta; xoài, chôm chôm và mít lần lượt được cấp 131, 53 và 53 mã số vùng trồng với tổng diện tích 3 loại này đạt gần 40.000 héc ta.

Để được cấp mã số vùng trồng, theo ông Thiệt, vùng sản xuất của người nông dân phải sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn, tức khuyến khích nông dân sử dụng phân, thuốc hữu cơ, sinh học vào trong quá trình sản xuất, thay vì lạm dụng phân thuốc hóa học như cách làm truyền thống. “Vùng trồng phải áp dụng quy trình canh tác sạch, đặc biệt phải sử dụng phân thuốc đáp ứng theo quy định của thị trường nhập khẩu”, ông cho biết.

Ngoài việc phải được cấp mã số vùng trồng, sản phẩm trước khi xuất khẩu phải được đóng gói và xử lý chiếu xạ hoặc xử lý hơi nước nóng (tùy theo quy định của từng thị trường) tại những cơ sở/nhà máy được cấp mã số.

Tuy nhiên, đối với việc xuất sang thị trường Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan…, thì chuyên gia kiểm dịch của họ sẽ  trực tiếp giám sát vùng trồng, giám sát nhà đóng gói và cơ sở xử lý chiếu xạ/xử lý hơi nước nóng. “Chính điều này làm chi phí trái cây xuất khẩu chúng ta cao”, ông nói.

Trước đó, tại hội thảo, ông Lê Thanh Tùng, Phó cục trưởng Cục trồng trọt cho biết, trong những năm gần đây, xuất khẩu rau quả Việt Nam liên tục tăng trưởng, mà cụ thể, nếu năm 2008 chỉ mới xuất khẩu đạt 407 triệu đô la Mỹ, thì 10 năm sau đó, tức đến năm 2018 đạt 3,81 tỉ đô la Mỹ.

Mở rộng bệnh viện cây trồng

Thông tin tại hội thảo cho biết, hiện nay Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam (Sofri) đã có bệnh viện cây trồng Đồng bằng sông Cửu Long đang hoạt động tư vấn tại chỗ, tức tại Trung tâm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật của Viện (huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang).

Tuy nhiên, thời gian tới, Sofri sẽ mở rộng bệnh viện cây trồng theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin tại các điểm tư vấn của Tập đoàn Lộc Trời.

Theo đó, mục tiêu của việc mở rộng này nhằm hỗ trợ giám định mẫu, tư vấn những vấn đề trong canh tác và bảo vệ thực vật trên cây ăn quả và chia sẻ thông tin mới cho nhà vườn; phản hồi kịp thời các khó khăn, vấn đề mới xuất hiện trong canh tác, bảo vệ thực vật của người làm vườn đến Viện, trường.

Ngoài ra, việc mở rộng này cũng nhằm mục tiêu hình thành và kết nối một hệ thống người làm vườn giỏi để chia sẻ kinh nghiệm hay trong sản xuất.

Bệnh viện cây trồng được mở rộng xuống các điểm tư vấn của Tập đoàn Lộc Trời gọi là trạm bệnh xá cây trồng và nội dung hoạt động tại những nơi này, gồm triển khai các lớp tập huấn nhằm củng cố, cập nhật kiến thức, kỹ năng giám định những vấn đề canh tác và bảo vệ thực vật trên cây ăn quả cho lực lượng kỹ thuật; tổ chức các đợt tư vấn lưu động tại các vùng dịch.

Ngoài ra, sẽ thực hiện xây dựng cơ sở dữ liệu nguồn thông qua việc soạn thảo và phát hành các phát đồ/tài liệu tư vấn chuẩn cho một số trường hợp cụ thể; ứng dụng smartphone (điện thoại thông minh) trong việc giám định, tư vấn bệnh của Bệnh viện cây trồng...

Nguồn:  Thesaigontimes

 

 

Giá gạo xuất khẩu Thái Lan tăng nhờ nhu cầu nội địa khởi sắc  (29/03/2019)

Giá gạo xuất khẩu ở Ấn Độ giảm từ đỉnh nhiều tháng trong tuần này vì nhu cầu yếu hơn, trong khi hoạt động mua trong nước kéo giá tăng cao ở Thái Lan.

Giá gạo xuất khẩu Ấn Độ giảm trở lại từ đỉnh 7 tháng

Tại nhà xuất khẩu hàng đầu, Ấn Độ, giá gạo 5% tấm báo đạt 390 - 393 USD/tấn trong tuần này, giảm so với đỉnh 7 tháng ở mức 392 - 395 USD xác lập vào tuần trước.

"Người mua đang chờ đợi giá điều chỉnh", một nhà xuất khẩu có trụ sở tại Kakinada, miền Nam bang Andhra Pradesh cho biết.

"Các nhà xuất khẩu không thể giảm giá do đồng rupee mạnh và giá lúa vốn đang ở mức cao".

Tuần trước, giá gạo xuất khẩu tăng là do đồng rupee mạnh mẽ, làm giảm lợi nhuận từ việc bán hàng trên thị trường nước ngoài của các nhà xuất khẩu.

Nhu cầu nội địa phục hồi kéo giá gạo xuất khẩu của Thái Lan tăng khoảng 10 USD

Trong khi đó, tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm tăng từ mức 390 - 393 USD/tấn của tuần trước lên 400 - 404 USD/tấn (FOB) vào thứ Năm (28/3).

Các thương nhân cho biết việc tăng giá là do nhu cầu trong nước khởi sắc, dù nhu cầu ở nước ngoài vẫn không thay đổi.

"Giá của tuần trước rất thấp, vì vậy đã có một số giao dịch mua trong nước và hiện tại, giá đã phục hồi nhẹ", một nhà giao dịch có trụ sở tại Bangkok cho biết.

Tuần trước, nội các Thái Lan đã đồng ý gia hạn hợp đồng mua bán gạo với Philippines, vốn đã hết hạn vào tháng 12/2018, thêm hai năm nữa. Thỏa thuận này cho phép Thái Lan, nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, tham gia các phiên đấu thầu do Philippines tổ chức và tuyên bố hai nước có thể giao dịch tới 1 triệu tấn gạo mỗi năm.

Giá gạo xuất khẩu Việt Nam tiếp tục lặng sóng trong tuần này

Tại Việt Nam, giá gạo 5% tấm không thay đổi so với tuần trước ở mức 360 USD/tấn.

"Hoạt động kinh doanh đang chậm lại trong tuần này do nhu cầu yếu hơn", một thương nhân có trụ sở tại TP HCM cho biết.

"Người mua từ Philippines, thị trường xuất khẩu chính của chúng tôi, cho biết họ đã hoàn thành đủ các hợp đồng trong ngắn hạn và không có kế hoạch mua thêm trong thời điểm hiện tại", nhà giao dịch cho biết.

Ngoài ra, theo Reuters, người mua từ Trung Quốc đã tổ chức một cuộc họp với các thương nhân hàng hóa tại TP HCM hôm thứ Năm (28/3) để tìm thêm các cơ hội thương mại, nhưng không có giao dịch gạo lớn nào được thực hiện, một thương nhân khác cho biết.

Trong khi đó, sản lượng lúa gạo của Bangladesh dự kiến sẽ tăng 7% lên 34,9 triệu tấn trong năm nay, tính đến tháng 4, so với cùng kì năm ngoái, do diện tích và sản lượng cao hơn, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) cho biết.

Bangladesh, theo truyền thống là nhà sản xuất gạo lớn thứ 4 thế giới, đã buộc phải nhập khẩu khối lượng lớn để tăng dự trữ trong nước vào năm 2017 sau khi lũ lụt tàn phá cây trồng địa phương.

Nguồn:  Kinh tế & Tiêu dùng

 

 

Giá cá tra nguyên liệu trở về điểm “hòa vốn”  (28/03/2019)

Chưa bao giờ tình hình thời sự về con cá tra lại sôi động như hiện nay, khi giá cá tra nguyên liệu từ 35.000-36.000 đồng/kg rớt xuống mức 23.000 - 23.500 đồng/kg. Thị trường giao dịch cá nguyên liệu trở nên trầm lắng.

Từ thị trường xuất khẩu…

Những ngày qua, giá cá tra  trên thị trường rớt xuống mức thấp, làm cho cả gia đình ngư dân Nguyễn Văn Tựa (xã Phú Bình, Phú Tân) như ngồi trên “đống lửa”. Bởi, chỉ còn 20 ngày nữa, cá hầm nhà ông thu hoạch nhưng với mức giá 23.500 đồng/kg, ông lỗ ít nhất 2,5 tỷ đồng. “Thời điểm tháng 10-2018, giá cá tra trên thị trường 36.000 đồng/kg. Lúc đó, tôi xuất được 300 tấn. Bình quân mỗi kg cá, tôi lời trên 10.000 đồng. Thấy giá cá đang lên nên ngay sau khi thu hoạch, tôi đã tập trung nguồn lực, mở rộng diện tích nuôi lên gần 8ha. Lúc này, cá tra giống thiếu hụt nên đợt thả giống vào hầm lần đó, tôi mua cá giống đến 65.000 đồng/kg (cá giống loại 30 con/kg). Giá cá giống thả vào hầm cao, giá thức ăn trong giai đoạn này giảm không đáng kể, giá bán xuống thấp nên vụ này cầm chắc thua lỗ…” - ông Tựa phân tích.

Thời gian qua, giá cá tra nguyên liệu ở mức cao, không chỉ có gia đình ông Tựa mở rộng diện tích nuôi mà có rất nhiều hộ, nhiều thành phần trong xã hội tham gia nuôi cá tra. Từ người bán vật liệu xây dựng, bán vàng, cán bộ, công chức đến nhân viên ngành ngân hàng cũng “nhảy vào”, từ đó đẩy thị trường con giống lên mức đỉnh. Có thời điểm, ngư dân phải thả con giống vào hầm ở mức 72.000 đồng/kg, giá con giống cao nhưng tỷ lệ hao hụt rất lớn (bởi thời tiết, khí hậu), từ đó làm cho giá thành nuôi không thể ở mức thấp. Đây là một trong những nguyên nhân làm nhiều người đang trong trạng thái “ăn ngủ không yên” khi giá cá nguyên liệu trở về điểm “hòa vốn”.

Lý giải về tình trạng giá cá tra nguyên liệu giảm những ngày qua, ông Doãn Tới, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Nam Việt cho biết, Mỹ là một trong những thị trường tiêu thụ cá tra lớn nhất của Việt Nam. Năm 2018, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này đạt 549,45 triệu USD (tăng 59,5% so với năm 2017). Năm rồi, thị trường này nhập nhiều hàng nên những tháng đầu năm 2019, các nhà nhập khẩu mua ít lại. Thị trường Trung Quốc và Hồng Kông mua hàng chậm lại. Nếu những năm trước, cá tra xuất khẩu qua đường tiểu ngạch nhiều, hiện nay tất cả phải xuất đường chính ngạch. Năm 2018, thị trường này nhập khẩu 528,657 triệu USD (tăng 28,7% so với năm 2017). Riêng thị trường Liên minh Châu Âu (EU) giữ vị trí số 3. Năm 2018 đạt 243,958 triệu USD (tăng 20,2% so với năm 2017), tuy nhiên thị trường này đang gặp khó.

 …đến việc tổ chức sản xuất

Thị trường xuất khẩu gặp khó, trong khi sản lượng nuôi tăng dẫn đến cung - cầu bị “lệch pha”. Hiện các nhà nhập khẩu hạn chế nhập hàng. ngư dân cần bình tĩnh, chờ tín hiệu của thị trường. Ngay lúc này, bà con lại bán tháo, từ đó khiến tình hình trở nên phức tạp. Nếu năm 2006 và 2007, toàn vùng ĐBSCL có sản lượng nuôi cá tra cao nhất 1,2 triệu tấn/năm. Đến năm 2018, sản lượng lên 1,42 triệu tấn/năm. Diện tích thả nuôi cá tra đến 5.400ha. Sản xuất nhiều nhưng thị trường mở ra không kịp, từ đó dẫn đến rủi ro khó lường. “Phải nhìn nhận rằng, hơn 20 năm phát triển, ngành công nghiệp cá tra đạt được những kết quả rất đáng tự hào nhưng nếu nhìn ngành hàng này ở góc độ khác vẫn còn nhiều chuyện phải làm. Cụ thể, ngoài con giống chất lượng, ngành này còn phải tiếp tục vận động 20% hộ nuôi tự do đi vào chuỗi liên kết. Hiện nay, khi giá cá nguyên liệu rớt xuống thấp, bà con đã bán cá, điều đó làm cho thị trường càng trở nên phức tạp” - bà Trần Thị Lệ Thu (xã Đa Phước, An Phú) nhận xét.

Mới đây, tại hội nghị triển khai kế hoạch sản xuất và xuất khẩu của ngành hàng cá tra năm 2019 (tổ chức tại An Giang vào ngày 18-2) đã đề ra mục tiêu, kim ngạch xuất khẩu sẽ đạt 2,4 tỷ USD, tăng 12% so năm 2018. Song, trong bối cảnh giá cá nguyên liệu trở về điểm “hòa vốn” như hiện nay, mục tiêu này sẽ khó đạt được. “Để ngành hàng cá tra phát triển bền vững, không nên mở thêm các nhà máy chế biến cá tra. Các địa phương không mở rộng diện tích nuôi, kiểm soát tốt sản lượng để tránh hiện tượng “cung vượt cầu”. Doanh nghiệp tập trung nâng chất lượng sản phẩm; tìm kiếm và mở rộng thị trường, chú ý khôi phục thị trường truyền thống như Nam Mỹ. Có như vậy ngành cá tra mới có thể vượt qua khó khăn…” - ông Tới đề xuất.

“Doanh nghiệp, chính quyền các tỉnh cần rà soát lại vùng nguyên liệu, rà soát lại 20% diện tích nuôi cá tra tự phát (chưa liên kết với doanh nghiệp trong bao tiêu sản phẩm) nhằm vận động người nuôi vào chuỗi liên kết. Cần tạo dựng thị trường hiện đại bằng sản phẩm chất lượng, hệ thống phân phối hiện đại, phải chú ý thị trường xuất khẩu lẫn trong nước, đặc biệt là thị trường 20 triệu khách du lịch trên thế giới hàng năm đến Việt Nam…” - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường lưu ý.

Nguồn: Báo An Giang

 

 

'Cơn sốt' mít Thái và câu chuyện thị trường  (28/09/2019)

Những vùng đất lúa, ruộng khóm, vườn bưởi... ở ĐBSCL đang được chuyển đổi thành vườn mít. Diện tích đất trồng mít tăng nhanh.

Lợi nhuận hấp dẫn trước mắt từ cây mít và câu chuyện thị trường tiêu thụ loại nông sản này cho chúng ta thấy điều gì?

Các thống kê cho thấy diện tích trồng mít Thái ở ĐBSCL hiện đã hơn 60.000ha, tăng gấp đôi so với năm ngoái. Nhiều vùng đất lúa chuyển sang trồng mít.

Ruộng khóm ở huyện Tân Phước, Tiền Giang; vườn bưởi ở Bình Minh, Vĩnh Long và ruộng lúa ở Tháp Mười, Đồng Tháp cũng đang được nông dân nhanh chóng chuyển sang trồng mít Thái.

Từ lợi nhuận hấp dẫn

Nguyên nhân chỉ vì lợi nhuận hấp dẫn vượt trội từ cây mít siêu sớm so với lúa và nông sản khác. Theo tính toán của bà con, nếu trồng lúa thu nhập chỉ khoảng 30 - 35 triệu đồng/ha, chỉ đủ trang trải từ 15 - 30% nhu cầu chi tiêu của hộ gia đình.

Còn trồng mít Thái, với giá hiện lên đến hơn 60.000 đồng/kg, mỗi hecta một năm thu hơn 1 tỉ đồng. Lợi nhuận gấp hơn 30 lần như vậy, hỏi sao nông dân không bỏ lúa trồng mít?

Theo những nông dân trồng mít Thái lâu năm, chi phí đầu tư cho loại cây này cũng vừa sức. Chỉ cần bán giá khoảng 10.000 đồng/kg là đã có lời. Thậm chí có người khẳng định chỉ cần bằng với giá lúa (5.000 đồng/kg) thôi, người trồng mít cũng sống được.

Thực tế không phải lúc nào mít cũng bán được giá cao ngất như hiện nay. Giá mít cũng từng "nhảy múa", có lúc chỉ còn 5.000 - 7.000 đồng/kg khi thương lái không mua, khiến người trồng nản lòng chặt bỏ. Nhưng từ đầu năm 2018 đến nay mít có giá cao, có khi một trái 20kg giá đến 1 triệu đồng.

Lợi nhuận từ mít có khi gần bằng sầu riêng, chưa kể chỉ trồng sau một năm loại mít này đã cho trái... Vậy nên, nông dân ĐBSCL vẫn cứ đổ xô trồng mít Thái dù từng có khuyến cáo "cung vượt cầu".

Có đầu ra, nhưng...

Một chủ doanh nghiệp ngành trái cây ở ĐBSCL mới đây cho biết anh vừa nhận đơn đặt hàng mua mít Thái của 2 doanh nghiệp... Thái Lan. Họ cho biết khách hàng của họ bên Trung Quốc muốn ăn mít ngon hơn nữa, an toàn hơn nữa và hỏi anh có làm chuẩn GlobalGAP được không.

Nhưng doanh nghiệp này đành phải lắc đầu, bởi dù diện tích trồng mít đang gia tăng nhưng cho đến nay chưa có một nghiên cứu toàn diện nào về quy trình nhân giống, canh tác, bảo vệ thực vật cho giống mít này. Đây chính là lỗ hổng mà công tác khuyến nông cần sớm lấp đầy.

Xin nhớ cho, mít không phải là một loại cây trồng mới và không có đầu ra. Cho đến nay, trong số 8 loại trái cây Việt được nhập khẩu chính ngạch vào Trung Quốc, mít đứng đầu bảng vì được cấp phép sớm nhất, từ năm 2009.

Khác với một số loại trái cây khác, mít đang được nhiều doanh nghiệp chế biến săn lùng để sấy. Tuy nhiên, hiện tại các doanh nghiệp không dám sấy mít Thái vì giá quá cao và 15kg mít trái mới cho ra 1kg thành phẩm mít sấy.

Thị trường tiêu thụ mít sấy rộng khắp từ châu Âu sang Trung Đông. Vì vậy, cho dù sau thời kỳ giá cao, giá mít Thái chắc chắn sẽ giảm xuống nhưng nhờ vào khả năng chế biến nên tiềm năng của trái mít vẫn còn.

Thực tế, không có bất kỳ ngành hàng nào có thể chiếm lĩnh thị trường một cách ổn định, lâu dài tuyệt đối. Dòng vốn sẽ lưu động liên tục và đổ vào những nơi có lợi nhuận hấp dẫn nhất. Nhiều người đang ôm tiền tỉ về Tiền Giang, Vĩnh Long tìm mua đất trồng mít hi vọng giá mít vẫn ở mức cao, trong thời gian không quá ngắn.

Khi giá mít hạ, chủ vườn có thể chặt cây mít để trồng cây khác có thể lợi nhuận tốt hơn. Một phần trong số họ sẽ chịu thiệt hại, chủ yếu là những người đi sau. Tuy nhiên, thiệt hại lớn hay nhỏ chủ yếu là do cách làm và quyết định của người trồng mít, bởi các nhà máy chế biến vẫn còn đó, và mít trái vẫn có đầu ra dù giá cả có thể không còn cao như hiện nay.

Tín hiệu thị trường là đây!

Chúng ta thường kêu gọi nông dân "sản xuất theo tín hiệu thị trường". Giá mít Thái cao chót vót đấy chính là tín hiệu thị trường chứ còn gì nữa. Thêm nữa, người ta vẫn nói về việc chuyển đổi, đa dạng hóa cây trồng vật nuôi.

Trồng mít, ĐBSCL có thêm một nông sản mang lại ấm no cho nhà nông, không phải sao? Giá mít cao, có thị trường xuất khẩu, các nước cũng có thể sẽ chuyển sang trồng mít. Và nông sản Việt gặp khó khăn, điều này từng xảy ra với gạo, cà phê, hồ tiêu..

Nông dân mở rộng diện tích trồng mít, những khuyến cáo về chuyện "cung vượt cầu" là rất cần thiết bởi trồng cây gì cũng khó có thể lường hết những rủi ro thị trường. Nhưng thay vì chỉ có khuyến cáo, cần có những giải pháp từ Nhà nước và doanh nghiệp giúp nông dân chiếm lĩnh thị trường lâu dài hơn.

Điều này bắt đầu từ những nghiên cứu cây giống năng suất, cách trồng để đạt sản lượng và chất lượng, công nghệ chế biến sau thu hoạch, tìm thị trường xuất khẩu... Việc này cần với các loại nông hải sản Việt, không chỉ đối với cây mít.

Và cũng cần sự kiên trì và tầm nhìn xa hơn từ nhà nông thay vì đua nhau trồng, cùng nhau chặt như trước giờ. Các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu nông sản cũng cần nguồn nguyên liệu ổn định cả số lượng và chất lượng để giữ thị trường tiềm năng nước ngoài.

Giúp nhà nông nâng chất lượng sản phẩm

PGS.TS Nguyễn Minh Châu, nguyên viện trưởng Viện Cây ăn quả miền Nam, cho biết mít, đu đủ, khế là 3 loại trái cây đang "làm mưa làm gió" tại thị trường châu Âu. Nông dân đã mở rộng diện tích, việc còn lại là quy hoạch để tăng cường chế biến, xuất khẩu và giúp nông dân nâng cao chất lượng sản phẩm. (Theo Tuổi Trẻ ngày 25-3-2019)

Nguồn:  Báo Tuổi Trẻ