CỔNG THÔNG TIN SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG
nông nghiệp an giang
Điểm tin thị trường

Tin thị trường ngày 05/04/2019

09:00 05/04/2019

Khóm mất mùa vì nắng hạn - Cá rô phi Việt Nam 'bơi' ra thế giới - Giá trị xuất khẩu gạo giảm mạnh 20% trong quý 1.2019 - Nấm rơm được mùa, thương lái vào tận ruộng mua giá cao - "Giải cứu" khoai lang: Bà con ồ ạt trồng, giá khoai lao dốc 1.000-3.000 đồng/kg .

 

Khóm mất mùa vì nắng hạn  (05/04/2019)

Đây là năm thứ hai liên tiếp, vùng trồng khóm (dứa) Đồng Dinh (huyện Phú Hòa, Phú Yên) rộng 500ha thất thu do giá hạ. Năm nay nắng hạn, khóm giảm năng suất kéo theo mất mùa năm sau vì cây khóm giống mất sức.

Ông Nguyễn Văn Tình ở xã Hòa Thắng đang thu hoạch khóm chia sẻ, tháng giêng thu lứa đầu, sau đó nắng quá lứa tiếp theo cây không đủ sức ra cần đơm trái. Ông trồng 2ha mới thu 30 triệu đồng. Đến cuối mùa thu mót chỉ được 80 triệu nữa.

Theo kinh nghiệm của nông dân trồng khóm, một năm cây khóm có 2 mùa chính ra trái tự nhiên thu hoạch vào tháng giêng và tháng năm (âm lịch). Để khóm ra trái rải vụ thu hoạch bán quanh năm thì dùng chất cặn gió đá (acetylen) pha với rượu rồi hòa nước tưới lên ngọn kích thích cho khóm ra nụ. Thường thì 1ha trồng 3 vạn cây, trong đó lựa khóm tốt “chế” cho ra 1 vạn trái, với giá hiện nay 8.000 đồng/trái, sau khi trừ chi phí đầu tư phân bón thì số tiền thu về trên 50 triệu.

Thế nhưng năm nay nắng hạn “chế” trái không đậu, nhiều người thất thu. Bà Trần Thị Linh, người trồng khóm cho hay: Từ lúc “chế” sau 1 tháng 10 ngày trên đọt nhú ra nụ màu hồng là khóm đậu trái, năm nay tôi “chế” lần hai nhưng nắng quá, khóm cũng không đậu.

Cũng theo bà Linh, khóm đầu vụ có nhiều cây tủ lại che nắng nên cây con đơm lên. Khi thu hoạch lứa đầu cắt dọn khóm mẹ còn khóm con gặp nắng không đủ sức ra trái. Cây nào “ráng” được thì ra trái nhỏ gọi là khóm đẹt, loại này bán giá rất thấp.

Hiện khóm Đồng Dinh thương lái mua phân loại: Khóm 1 mỗi trái khóm nặng 1kg trở lên là 80.000 đồng/chục “có đầu” (12 trái); sau đó hạ xuống đến khóm 6 là 60.000 đồng/chục, khóm 5 là 50.000 đồng/chục, thấp nhất là khóm 10 là 10.000 đồng/chục, tức là 1.000 đồng/trái, gọi là khóm đẹt. Mấy năm trước trời có mưa, khóm loại 1 trái lớn nặng 1,4kg, nay nắng hạn trái khóm nhỏ lại, trái lớn nhất chỉ 1,1kg, cùng với đó lứa khóm đẹt rất nhiều trong rẫy.

Những ngày này, sáng sớm bà con thu hoạch khóm. Sau khi treo những bao tải khóm vào dây cáp thả ròng rọc xuống chân rẫy rồi phân ra từng loại cho vào bao tải chở bán cho vựa. Vùng khóm Đồng Dinh chạy dọc theo con suối Cái, người trồng khóm chở ra 2 ngõ, một ngõ nằm ngay miệng suối Cái ra thị trấn Phú Hòa, còn một ngõ qua cánh xã Hòa Quang Bắc (huyện Phú Hòa).

Thị trấn Phú Hòa có 5 vựa thu mua khóm, xã Hòa Quang Bắc có 10 vựa. Trước đây, mỗi vựa thu 5 tấn khóm/ngày, nay nắng nóng khóm ít trái nên mỗi vựa thu 1,5 tấn khóm. Bà Bùi Thị Xinh, một vựa mua khóm cho hay: Mấy năm trước, một ngày chở xe tải 5 tấn  đi Khánh Hòa, Ninh Thuận…bán, nay khóm ít chỉ chở 1,5 tấn/ngày.

Vùng khóm Đồng Dinh hình thành gần 20 năm. Trước đây, người dân ở xã Hòa Định Tây và thị trấn Phú Hòa đến Đồng Dinh để trồng rẫy bạch đàn, về sau phá rẫy bạch đàn đầu tư trồng khóm. Từ đó đến nay vùng khóm Đồng Dinh mở rộng gần 500ha trải dài qua 3 xã Hòa Định Tây, Hòa Quang Nam, Hòa Quang Bắc và thị trấn Phú Hòa. Quang vùng có gần 200 hộ dân chuyên trồng khóm, hộ trồng nhiều trên 10ha, còn lại đa số mỗi hộ trồng 7-8ha. Thời gian trồng khóm đã lâu, vùng này là đất rẫy triên (đất có độ dốc), mùa mưa bị rửa trôi nên đất trồng khóm xấu cộng với thời tiết nắng nóng dẫn đến vùng khóm “xuống sức”.

Ông Phan Hòa, người trồng khóm ở xã Hòa Định Tây phân trần: Thường trồng lứa khóm tơ thu hoạch mùa đầu, năm sau “ăn” đến khóm gốc, mỗi mùa cây “nhảy” ra 5-6 cây con quanh gốc, người trồng tách bỏ bớt chừa lại 3-4 cây con cho ra trái, cứ vậy tiếp tục “ăn” lứa khóm gốc ít nhất là 5 năm.

Thế nhưng hai năm nay, nắng hạn kéo dài, đất trồng khóm khô khốc kéo theo khóm bị bệnh nên cây mau xuống sức, thời gian “ăn” lứa khóm gốc chỉ còn 3 - 4 năm. Người trồng khóm phải bỏ tiền công đầu tư trồng mới.

“Không những thế, đối với cây khóm gặp thời tiết nắng hạn năm nay kéo theo mất mùa sang năm vì lứa khóm gốc năm nay bị nắng “đè” yếu sức, cây nhỏ không đủ sức ra trái. Chi phí càng ngày tăng cao. Trước đây trung bình 1ha khóm mỗi năm thu 200 triệu đồng thì chi phí gần 120 triệu đồng, nay do đất càng ngày càng xấu nên phân bón, công chăm sóc lên đến 150 triệu”, ông Hòa nói.

Theo ông Nguyễn Siêng, Trưởng phòng NN-PTNT huyện Phú Hòa, khóm Đồng Dinh là một trong những sản phẩm chủ lực của huyện, nức tiếng gần xa với vị ngọt thơm được thị trường ưa chuộng. Tuy nhiên do nắng hạn và giá cả thị trường xuống thấp nên người trồng gặp khó. Huyện kêu gọi các nhà đầu tư xây dựng nhà máy chế biến để đảm bảo ổn định đầu ra, hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung...

Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam

 

 

Cá rô phi Việt Nam 'bơi' ra thế giới  (05/04/2019)

Trước việc Mỹ áp thuế cao lên mặt hàng thuỷ sản nhập khẩu từ Trung Quốc, sản phẩm cá rô phi của Việt Nam có cơ hội mở rộng thị phần. Liệu rằng, Việt Nam có tận dụng được cơ hội tốt này không?

Thị trường rộng mở

Ông Nguyễn Như Cẩn, Vụ trưởng Vụ nuôi trồng thuỷ sản (Tổng cục Thuỷ sản) cho biết, cá rô phi là đối tượng nuôi đặc biệt quan trọng của ngành thuỷ sản. Đây là ngành hàng lớn trị giá khoảng 12 tỷ USD trên toàn cầu, với tốc độ tăng trưởng nhanh (10 - 12%/năm).

Hiện Việt Nam đứng vị trí thứ 8 trong bảng xếp hạng các quốc gia có sản lượng cá rô phi lớn của thế giới, với hơn 200.000 tấn/năm. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu cá rô phi của nước ta chiếm thị phần rất nhỏ (khoảng 15 triệu USD/năm).

Phân tích thị trường Mỹ, ông Trần Văn Công - Phó Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, chia sẻ: Trung Quốc là quốc gia cung cấp cá rô phi lớn nhất cho Mỹ, chiếm khoảng 60 - 70% tổng sản lượng cá rô phi đông lạnh nhập vào Mỹ. Tuy nhiên, với lệnh áp thuế 25% lên mặt hàng thuỷ sản nhập khẩu từ nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, thời kỳ hoàng kim của cá rô phi Trung Quốc tại Mỹ có thể dần kết thúc.

Mỹ cũng là thị trường nhập khẩu cá rô phi lớn nhất của Việt Nam, chiếm 19% tỷ trọng trong năm 2018. Giá cá rô phi vào Mỹ thường cao, trung bình đạt 2,26 USD/kg, với thuế suất 0%.

Bên cạnh đó, Việt Nam có khoảng 680 cơ sở chế biến thuỷ sản quy mô công nghiệp, với công suất chế biến đạt 2,8 triệu tấn/năm. Công nghệ chế biến cá rô phi cũng gần giống với quy trình công nghệ chế biến cá tra của Việt Nam. Do vậy, các nhà máy chế biến cá tra có thể dễ dàng chuyển đổi giữa hai mặt hàng khi cần, hoặc có thể sản xuất song song với nhau.

Tuy nhiên, điểm yếu của cá rô phi của Việt Nam tại sân chơi quốc tế là chất lượng con giống chưa cao và không đồng đều. Mặc dù diện tích nuôi cá rô phi tăng nhanh trong những năm qua nhưng thiếu quy hoạch thành các vùng tập trung, chưa tạo được sản lượng lớn cho chế biến xuất khẩu. Đặc biệt, giá cá nguyên liệu cao hơn khoảng 20 - 30 cent/kg so với Trung Quốc.

Tại Hội nghị ứng dụng KH-CN phát triển ngành hàng cá rô phi (do Bộ NN-PTNT tổ chức vào sáng 4/4 tại Hòa Bình), Tổng cục Thủy sản cho biết cả nước hiện có 250 cơ sở sản xuất kinh doanh giống cá rô phi, trong đó 50 cơ sở nuôi giữ đàn cá bố mẹ với hơn 1 triệu cá thể, sản xuất được khoảng 1,2 tỷ cá rô phi bột, trên 500 triệu cá rô phi giống.

Số lượng này chỉ đáp ứng được trên 75% nhu cầu giống. Trên thực tế, chúng ta phải nhập khẩu rất nhiều giống từ nước ngoài. Việc thiếu hụt giống cá rô phi vằn chất lượng cao thường xảy ra vào đầu vụ nuôi (từ tháng 3 - 5 hàng năm) ở các tỉnh phía Bắc.

Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Phùng Đức Tiến chia sẻ: Hiện nay, sản lượng cá rô phi của Việt Nam đạt trên 200.000 tấn/năm, tuy nhiên giá trị xuất khẩu rất thấp. Điều đó cho thấy, sức cạnh tranh của ngành hàng này trên thế giới là yếu, chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế của Việt Nam. Nguyên nhân là do chúng ta chưa đầu tư xứng đáng cho khâu nghiên cứu giống chất lượng, nên phụ thuộc vào nguồn giống của nước ngoài (đặc biệt là Trung Quốc).

Sản xuất thức ăn, thú y thuỷ sản vẫn còn chưa đáp ứng yêu cầu. Rất nhiều chế phẩm nuôi trồng thuỷ sản được công nhận, nhưng hiệu quả thực tế đến đâu thì chưa có tổng hợp đánh giá. Bởi vậy, cần phải công khai minh bạch các loại chế phẩm đang lưu hành trong nước, không được để xảy ra tình trạng “loạn chế phẩm”. Bên cạnh đó, chúng ta vẫn chưa hình thành được nhiều chuỗi chăn nuôi khép kín, truy xuất nguồn gốc và đảm bảo an toàn thực phẩm đáp ứng xuất khẩu.

Nhiều tập đoàn lớn đã đầu tư xây dựng chuỗi ngành hàng

TS Ngô Phú Thoả, GĐ điều hành Mavin Aquaculture (Mavin Group), chia sẻ: Nhu cầu sử dụng cá rô phi là rất lớn, nhưng Việt Nam vẫn chưa chớp được cơ hội để nâng giá trị xuất khẩu ngành hàng này. Vậy nguyên do vì sao?

Ông Thoả đặt câu hỏi và tự lý giải: Trước hết, chúng ta chưa lựa chọn được phân khúc thị trường. Bởi, mỗi thị trường khác nhau sẽ có thói quen tiêu dùng các sản phẩm khác nhau. Ví dụ, thị trường châu Phi ưa chuộng cá đông lạnh nguyên con cỡ vừa, còn thị trường Mỹ và EU lại ưa chuộng cá rô phi phi lê cỡ lớn.

Thứ hai, trước đây ở Việt Nam hầu như không có doanh nghiệp xây dựng chuỗi giá trị khép kín ngành hàng cá rô phi từ sản xuất đến chế biến, phát triển thị trường. Qua đó, rất khó để truy xuất nguồn gốc và đảm bảo nguồn hàng ổn định về chất lượng cũng như số lượng.

Với tầm nhìn trở thành đơn vị dẫn đầu ngành hàng cá rô phi ở Việt Nam, Mavin Aquaculture đã khép kín chuỗi từ sản xuất con giống chất lượng, công nghệ chăn nuôi hiện đại, chế biến và xuất khẩu, với các mặt hàng đa dạng và phù hợp với từng thị trường, sản lượng trong 3 - 5 năm tới khoảng 40.000 - 50.000 tấn/năm, sử dụng công nghệ lồng tròn Nauy; sông trong ao (IPRS).

Trong đó, riêng với dự án Trung tâm nuôi trồng thuỷ sản xuất khẩu, Mavin ứng dụng cả máy cho ăn tự động, hệ thống quan trắc môi trường tự động, hệ thống máy thu hoạch, phân loại và đếm tự động nhập khẩu từ Châu Âu. Hiện nay, Mavin đã cung ứng ra thị trường những mẻ cá lồng đầu tiên với giá bán khá tốt.

Tập đoàn De Heus cũng đã rót vốn đầu tư vào ngành hàng cá rô phi xuất khẩu. Cách làm của De Heus khác với Mavin Group ở chỗ liên kết với các hộ nuôi trồng thuỷ sản, tạo ra chuỗi sản phẩm có khả năng truy xuất nguồn gốc với thương hiệu uy tín. Xuất phát từ nhu cầu của các thị trường cao cấp, De Heus chọn phát triển dòng sản phẩm chủ lực là cá rô phi phi lê miếng lớn (mà thị trường Mỹ và EU đang ưa chuộng).

TS Thái Thanh Bình, Phó Hiệu trưởng trường CĐ Kinh tế Kỹ thuật và Thuỷ sản, chia sẻ: Hiện nay, giá thành 1kg cá rô phi nguyên liệu từ 20.000 - 22.000 đồng, với giá bán tại ao khoảng 22.000 - 24.000 đồng, thì gần như không có lãi. Đó là chưa tính đến tỷ lệ rủi ro cao. Hiện nay, nhà trường đã ứng dụng thành công công nghệ Biofloc nuôi cá rô phi, mỗi hecta mặt nước có thể sản xuất 200 - 300 tấn cá rô phi/năm, với giá thành khoảng 17.000 đồng/kg.

Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam

 

 

Giá trị xuất khẩu gạo giảm mạnh 20% trong quý 1.2019  (05/04/2019)

Khối lượng xuất khẩu gạo 3 tháng đầu năm 2019 ước đạt 1,43 triệu tấn và 593 triệu USD, giảm 3,5% về khối lượng và giảm 20,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.

Theo Bộ NNPTNT, khối lượng xuất khẩu gạo quý I/2019 ước đạt 658 nghìn tấn với giá trị đạt 281 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 3 tháng đầu năm 2019 ước đạt 1,43 triệu tấn và 593 triệu USD, giảm 3,5% về khối lượng và giảm 20,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.

Philippines đứng vị trí thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam với 40,2% thị phần; các thi ̣trường có giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh là Angola (gấp 9,5 lần); Bờ Biển Ngà (gấp 6,1 lần); Hồng Kông, Nam Phi và Úc gấp hơn 2 lần.

Về giá gạo xuất, Bộ NNPTNT cho biết, bình quân 2 tháng đầu năm 2019 giá gạo đạt 404 USD/tấn, giảm 17,8% so với cùng kỳ năm 2018.

Về chủng loại gạo xuất khẩu, trong 2 tháng đầu năm 2019, giá trị xuất khẩu gạo trắng chiếm 60% tổng kim ngạch; gạo Jasmine và gạo thơm chiếm 29%; gạo nếp chiếm 8% và gạo Japonica, gạo giống Nhật chiếm 3%.

Các thị trường xuất khẩu gạo trắng lớn nhất của Việt Nam là Phillipines (61%), Cuba (20%). Với gạo Jasmine và gạo thơm, thị trường xuất khẩu lớn nhất là Bờ Biển Ngà (33%), Ghana (14%) và Phillipines (8%).

Hồng Kông là thị trường xuất khẩu gạo nếp lớn nhất của Việt Nam, chiếm tới 42% tổng khối lượng gạo nếp xuất khẩu của Việt Nam, tiếp theo là Phillipines (19%) và Trung Quốc (18%). Với gạo Japonica và gạo giống Nhật, thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Papua New Guinea (14%) và Quần đảo Solomon (13%).

Giá lúa tăng bởi nhu cầu xuất khẩu

Trong tháng 3.2019, giá lúa, gạo tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tăng trong bối cảnh chương trình thu mua tạm trữ 200 ngàn tấn gạo, 80 ngàn tấn lúa vụ Đông Xuân đang diễn ra. Trong tháng 3.2019, giá lúa gạo tại khu vực ĐBSCL tăng do các doanh nghiệp xuất khẩu tích cực mua vào và chương trình tạm trữ gạo của Chính phủ.

Tại An Giang, lúa tươi IR50404 tăng từ 4.300 đồng/kg lên 4.750 đồng/kg và hiện ở mức 4.600 đồng/kg; lúa OM 5451 tăng từ 4.700 đồng/kg lên 4.800 đồng/kg; lúa OM 4218 tăng từ 4.350 đồng/kg lên 4.600 đồng/kg; lúa OM 1490 tăng từ 4.800 đồng/kg lên 5.000 đồng/kg; gạo tẻ IR50404 ở mức 10.000 đồng/kg; gạo chất lượng cao ở mức 13.000 đồng/kg; gạo thơm đặc sản jasmine ở mức 14.000 đồng/kg.

Tại Vĩnh Long, lúa tươi IR50404 tăng từ 4.600 đồng/kg lên 4.800 đồng/kg, lúa khô tăng từ 5.000 đồng/kg lên 5.300 đồng/kg; gạo IR50404 ở mức 12.000 đồng/kg; gạo jasmine ở mức 14.000 đồng/kg.

Tại Bạc Liêu, lúa tài nguyên mới ở mức 7.200 – 7.400 đồng/kg; các loại lúa chất lượng cao phổ biến ở mức 4.700 – 4.800 đồng/kg.

Tại Kiên Giang, lúa IR50404 ổn định ở mức 5.400 đồng/kg; lúa OM 4218 tăng 100 đồng/kg lên 5.500 – 5.700 đồng/kg; trong khi lúa OM 6976 giảm 100 đồng/kg xuống 5.500 – 5.600 đồng/kg; lúa Jasmine giảm 200 đồng/kg xuống 6.000 – 6.100 đồng/kg.

Kết quả nghiên cứu thị trường của Bộ NNPTNT cho thấy,  mặc dù quý I/2019, thị trường lúa gạo có khó khăn nhưng dự báo sang quý II/2019 sẽ có nhiều hợp đồng mới do giá gạo của Việt Nam đang ở mức giá cạnh tranh với các nước xuất khẩu khác. Hiện tại một số doanh nghiệp đã tiếp cận được thị trường và triển khai thỏa thuận để ký hợp đồng.

Đặc biệt, tin vui đến với các nhà xuất khẩu gạo Việt Nam khi Ai Cập vừa mở thông báo mời thầu gạo trắng hạt ngắn, hạt trung bình, mở cho tất cả nhà thầu quan tâm cả trong nước và nước ngoài. Được biết, hạn nộp hồ sơ thầu là 30.4.

Nguồn: Báo Lao Động

 

 

Nấm rơm được mùa, thương lái vào tận ruộng mua giá cao  (05/04/2019)

Những ngày này, nông dân phường Thới An Đông, quận Bình Thủy (TP.Cần Thơ) đang tất bật ủ rơm, xuống meo cho vụ nấm rơm mới. Vụ nấm rơm này nhiều hộ có điều kiện đầu tư bởi trước đó được sự “tiếp sức” của Quỹ Hỗ trợ nông dân.

Được mùa, được giá

Vụ mùa này, trên địa bàn phường Thới An Đông có khoảng 100 hộ sản xuất nấm rơm với khoảng 900.000 chai meo giống.

Vụ nấm năm nay, anh Ngô Văn Út, ở khu vực Thới Long, phường Thới An Đông, thuê khoảng 1.300m² đất để chất khoảng 800 chai meo giống. Bình quân mỗi chai meo cho năng suất từ 2- 3kg nấm rơm. Hiện tại, nấm rơm được thương lái đến tận ruộng thu mua với giá 47.000 đồng/kg.

Với mức giá và diện tích này, ước tính gia đình anh Út sẽ đạt lợi nhuận khoảng 25 triệu đồng. Cũng theo anh Út, sau vụ nấm này, anh sẽ tiếp tục tìm đất để thuê làm vụ nấm rơm mới, vì lợi nhuận từ trồng nấm rơm khá ổn định.

Với giá 47.000 đồng/kg nấm rơm, sau đợt thu hoạch, mỗi hộ trồng nấm lợi nhuận từ 20 triệu đồng trở lên trong thời gian 45 ngày. Ảnh: Nguyễn Tín

"Nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân đã phát huy hiệu quả giúp nông dân trồng nấm rơm mở rộng quy mô sản xuất, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập…”. Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Phó Chủ tịch Hội nông dân phường An Thới Đông

Ở miền Tây nói chung và Cân Thơ nói riêng, nhiều hộ làm nghề cho rằng, nấm rơm là loại nông sản có thời gian sinh trưởng ngắn, từ lúc chất đến thu hoạch dứt điểm kéo dài khoảng 45 ngày.

Trồng nấm rơm không cần phải tốn nhiều chi phí đầu tư, chỉ nặng công ủ rơm, chất, tưới nước và hái nấm hằng ngày. Nguồn lợi nhuận từ nghề trồng nấm rơm mang lại rất hấp dẫn nên thu hút nhiều người tham gia. Nếu so sánh về hiệu quả kinh tế thì trồng nấm rơm thu nhập gấp 3 - 4  lần trồng lúa, trong khi chi phí về vật tư lại giảm hơn so với trồng lúa.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn-Phó Chủ tịch Hội Nông dân phường Thới An Đông, quận Bình Thủy cho biết, những năm gần đây, nắm bắt được nhu cầu của bà con và tín hiệu của thị trường, Hội Nông dân trên địa bàn đã phối hợp tổ chức tập huấn kỹ thuật trồng nấm rơm cho các hộ làm nghề.

Bên cạnh đó, Hội Nông dân cũng đã tổ chức thực hiện dự án sử dụng Quỹ Hỗ trợ nông dân trong phát triển nghề trồng nấm rơm trên địa bàn phường An Thới Đông. Nguồn vốn Quỹ Hỗ trợ nông dân đã giúp các hộ có thêm vốn để mở rộng quy mô sản xuất.

Tạo thêm việc làm

Theo những nông dân có kinh nghiệm, trồng nấm rất hiếm gặp rủi ro. Hơn nữa, những mô rơm sau khi trồng nấm có thể tận dụng để làm phân bón trồng rau, trồng hoa... rất tốt. Anh Ngô Văn Hòa, ngụ phường Thới An Đông, một trong những hộ gắn bó với nghề trồng nấm rơm từ nhiều năm nay cho biết, hiện tại bà con đang tất bật chuẩn bị cho vụ nấm rơm mới, không khí chất nấm rơm rất sôi nổi.

Nguồn rơm ở địa phương không đáp ứng đủ cho nghề trồng nấm rơm nên nhiều hộ phải đến tận các tỉnh miền Tây như Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang, An Giang… để mua rơm nguyên liệu. Giá rơm nguyên liệu ở vào khoảng 18.000 đồng/cuộn. “Chất nấm rơm khá cực nhưng nếu chịu khó thì thu nhập khá cao, đạt từ 20-30 triệu đồng/vụ nấm chỉ trong 1 tháng rưỡi”- anh Hòa phấn khởi nói.

Nấm rơm đang đem lại no ấm cho nhiều gia đình, nên số hộ trồng nấm ở Thới An Đông cũng tăng lên. Vì vậy, việc củng cố, phát huy hiệu quả của tổ hợp tác trồng nấm rơm được phường xem là một trong những công tác trọng tâm. Phường Thới An Đông hiện có 4 tổ hợp tác trồng nấm rơm ở khu vực Thới Long, Thới Thạnh, Thới An và Thới Hưng với gần 50 thành viên.

Hiện tại, mô hình trồng nấm rơm đang phát triển mạnh tại các tổ hợp tác. Ngoài tận dụng diện tích đất trống sẵn có, các hộ dân làm nghề còn thuê đất ở những địa phương lân cận và thu mua rơm nguyên liệu ở các tỉnh thành về để chất nấm.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn-cho biết: “Hiện nay, địa phương đang hướng dẫn và giúp bà con phát triển nghề trồng nấm theo hướng nông nghiệp đô thị. Hội chủ động vận động các hội viên tham gia vào tổ hợp tác trồng nấm rơm để có hướng hỗ trợ giúp bà con phát triển nghề trồng nấm rơm…”.

Để hỗ trợ nông dân làm nghề trồng nấm rơm, Hội Nông dân phường đã phối hợp Ngân hàng Chính sách Xã hội quận Bình Thủy cùng các ngành hỗ trợ vốn, kỹ thuật cho bà con có nhu cầu.

 Đặc biệt, trong năm 2018, các thành viên của Tổ hợp tác trồng nấm rơm đã được hỗ trợ cho vay 500 triệu đồng từ Quỹ Hỗ trợ nông dân nguồn của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam ủy thác. Một mùa vụ nấm rộn ràng hứa hẹn nhiều niềm vui đang về trên khắp cánh đồng Bình Thủy.

Nguồn: Dân Việt

 

 

"Giải cứu" khoai lang: Bà con ồ ạt trồng, giá khoai lao dốc 1.000-3.000 đồng/kg  (04/04/2019)

Gần một tháng nay, Hà Nội xuất nhiều nhiều điểm bán giải cứu khoai lang cho bà con Gia Lai. Giá mỗi kg khoai dao động từ 10.000-12.000 đồng/kg. Lãnh đạo Sở Nông nghiệp Gia Lai cho biết, đến thời điểm này, khoai lang Gia Lai đã tiêu thụ được khoảng 90%.

Ông Đoàn Ngọc Có, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Gia Lai cho biết, đến thời điểm này, 90% sản lượng khoai lang đã được tiêu thụ. Giá bán khoai lang tăng so với đầu vụ, cụ thể khoai lang loại 1 (củ to, tròn, mẫu mã đẹp) giá 7.000 đồng/kg, còn khoai lang loại 2 giá 5.000 đồng/kg, tăng so với đầu vụ từ 3.000-4.000 đồng/kg. Với tình hình hiện tại, chỉ khoảng chục ngày nữa khoai lang Gia Lai sẽ được tiêu thụ hết.

Nói về nguyên nhân giá khoai lang “lao dốc” và phải giải cứu trong một tháng qua, ông Có cho biết, kế hoạch của tỉnh năm 2019 là trồng 2.600 ha khoai lang, trong đó vụ đông xuân 900 ha. Tuy nhiên đến thời điểm này, toàn tỉnh đã có 1.330ha khoai lang, vượt 47% so với kế hoạch.

Vào cuối năm 2018, giá khoai lang ở mức cao, khoảng 10.000 - 13.000 đồng/kg. Lợi nhuận lớn nên bà con nông dân đã triển khai trồng ồ ạt bất chấp cảnh báo của ngành chức năng và chính quyền địa phương. Cung vượt cầu nên sau Tết Nguyên đán 2019, giá khoai bắt đầu lao dốc, chỉ còn 1.000-3.000 đồng/kg.

Ngoài ra, ông Có cũng cho biết, năm 2019 thị trường Trung Quốc đặt ra tiêu chuẩn cao hơn, khắt khe hơn, yêu cầu an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc nên sản lượng khoai xuất đi Trung Quốc giảm. Đây cũng là nguyên nhân khiến khoai không có đầu ra, giá giảm mạnh.

Theo ông Có, Sở đã khuyến cáo bà con không được mở rộng diện tích để tránh tình trạng phải giải cứu như hiện nay. Bên cạnh đó, với sự vào cuộc của một số doanh nghiệp, lắp đặt nhà máy, dây chuyền chế biến, liên kết người dân với doanh nghiệp, hi vọng sẽ giải quyết được vấn đề đầu ra cho bà con.

Trước tình trạng “giải cứu” nông sản, ông Nguyễn Như Cường, Cục trưởng Cục trồng trọt  (Bộ NN&PTNT) cho rằng sản xuất phải theo thị trường, mỗi tỉnh, mỗi nông dân, tổ chức sản xuất nông nghiệp phải chủ động nắm bắt tín hiệu thị trường.

Cục Trồng trọt chỉ định hướng những vùng nào thì nên phát triển cây nào có lợi thế nhất chứ không thể bắt người dân phải trồng cây này, cây kia.

Cũng theo ông Cường, cây khoai lang phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc, trước đây chủ yếu xuất khẩu theo tiểu ngạch và cạnh tranh với cả khoai Trung Quốc cho nên có năm giá rất đắt nhưng có năm lại rất rẻ.

Nhận thấy cây khoai lang phù hợp và có giá trị nên Bộ trưởng NN&PTNT đã chỉ đạo các đơn vị liên quan làm việc với Trung Quốc để mở cửa thị trường, đưa cây khoai lang xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc. Tuy nhiên, việc mở cửa thị trường thường phải mất nhiều năm, chứ không thể một sớm một chiều. Hiện nay chúng ta vẫn đang đàm phán để mở cửa thị trường.

Nguồn: Infonet