CỔNG THÔNG TIN SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG
nông nghiệp an giang
Điểm tin thị trường

Tin thị trường ngày 21/12/2018

09:00 21/12/2018

Nhìn từ trái vú sữa đi... Mỹ - Xa rồi cảnh xe tải ùn ùn mua cam, các tỉnh đau đầu tìm nơi tiêu thụ - Xuất khẩu tôm sang loạt thị trường lớn giảm mạnh - Gạo Việt chính thức có logo, liệu có bứt phá nổi? - Nguy cơ vỡ quy hoạch do ồ ạt mở rộng diện tích nuôi cá tra giống

 

Nhìn từ trái vú sữa đi... Mỹ  (21/12/2018)

Giữa tháng 12, tại HTX nông nghiệp Trinh Phú, Tổ hợp tác (THT) Quyết Thắng, thị trấn An Lạc Thôn, Sóc Trăng, 2 tấn vú sữa đầu tiên của Sóc Trăng chính thức đóng thùng đi… Mỹ.

Chuyện trái cây Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Châu Âu, Mỹ không mới. Tuy nhiên, trái vú sữa Sóc Trăng đạt chuẩn VietGAP được xuất khẩu sang Mỹ mở ra cách nhìn mới về cây trái miền Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Bởi trái vú sữa lâu nay bán chợ là chủ yếu.

 

Theo hợp đồng đầu tiên, Cty VINA T&T ký kết thu mua với HTX Trinh Phú, thu mua khoảng 200 tấn. Giá vú sữa đạt chuẩn giá 30.000đ/kg, gấp đôi so với thời giá hiện nay (nhà vườn bán thương lái 11.000đ/kg). Ông Nguyễn Thành Phước - Chi Cục trưởng Chi cục Trồng trọt - BVTV Sóc Trăng - cho biết: Các vườn cây phải được cấp mã code và đáp ứng các các yêu cầu như: Phải bao trái, không dùng thuốc bảo vệ thực vật...

 

Đến tháng 10.2018 HTX nông nghiệp Trinh Phú, xã Trinh Phú, huyện Kế Sách được cấp 2 mã code vùng trồng cây vú sữa tím với diện tích hơn 30ha, có 22 hộ nhà vườn thành viên của HTX tham gia và THT Quyết Thắng - xã Xuân Hòa, huyện Kế Sách được cấp 1 mã code vùng trồng cây vú sữa tím với diện tích 15,5ha có 22 hộ tham gia. Sắp tới sẽ có thêm Cty xuất nhập khẩu Mộc Phát đề nghị cấp mã code vùng trồng vú sữa tím với 9,81ha (10 nhà vườn đăng ký tham gia) và vú sữa Lò Rèn 8,01ha (7 nhà vườn tham gia) nhắm xuất khẩu vào thị trường cao cấp.

 

Hiện nay tỉnh Sóc Trăng có diện tích vườn cây ăn trái hơn 29.000ha phân bố tại các huyện Kế Sách, Long Phú, Mỹ Tú, Cù Lao Dung, Châu Thành. Trong đó riêng diện tích vườn cây vú sữa có hơn 1.545ha tập trung nhiều nhất tại huyện Kế Sách (1.524ha).

 

Trước đó, khoảng 400 tấn vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim tỉnh Tiền Giang cung ứng xuất khẩu sang thị trường Mỹ vào cuối năm nay. So với năm ngoái, số lượng trái vú sữa xuất khẩu đã tăng gấp nhiều lần. Nông dân trồng vú sữa lò rèn Vĩnh Kim đang háo hức với vụ mùa mới. Giá thu mua xuất khẩu trung bình 28.000đ/kg.

 

Việc cây trái ĐBSCL xâm nhập thị trường Mỹ cho thấy, cây trái vùng sông nước này hoàn toàn có thể xuất khẩu vào thị trường khó tính. Liên kết để cây trái Việt nâng cao chuỗi giá trị lợi cả đôi đường. Câu chuyện này lý ra được thực hiện từ rất lâu chứ không phải bây giờ. Tiếc, nhưng dẫu sao muộn vẫn còn hơn không.

Nguồn: Báo Lao động

 

Xa rồi cảnh xe tải ùn ùn mua cam, các tỉnh đau đầu tìm nơi tiêu thụ  (20/12/2018)

Làm gì để giúp bà con nâng cao chất lượng sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm cây có múi là một vấn đề lớn, không thể giải quyết trong ngày một, ngày hai. Đó là đánh giá chung tại Diễn đàn khuyến nông @ nông nghiệp do Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp Sở NNPTNT tỉnh Hòa Bình vừa tổ chức, với chủ đề “Giải pháp phát triển cây có múi vùng Tây Bắc theo hướng sản xuất hàng hóa”.

 

Diện tích tăng chóng mặt

 

Trong những năm vừa qua, diện tích trồng cây có múi trên cả nước, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi phía Bắc tăng theo cấp số nhân. Sản lượng cam, bưởi tăng cao, nhưng việc tìm thị trường tiêu thụ cho cây có múi vẫn là một vấn đề nan giải. Hơn bao giờ hết, chính người nông dân cũng cần phải chủ động trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, không nên chạy theo phong trào.

 

Theo thống kê của Cục Trồng trọt, trong 10 năm 2008 -2017 tổng diện tích cây ăn quả của cả nước có tốc độ tăng trưởng bình quân 2%/năm (16.500ha/năm). Đặc biệt, trong 5 năm trở lại đây từ 2013 - 2017 tăng trưởng ở mức gấp đôi là 4,3%/năm (tương đương 35,7 nghìn ha/năm).

 

Cách đây 6 năm, vựa cam Cao Phong (Hòa Bình) bỗng dưng ăn nên làm ra vì giá cam tăng cao. Khi đó cam bán tại vườn lên đến 28.000 - 35.000 đồng/kg, thậm chí cam Valencia (cam V2) lên đến 50.000 đồng/kg. Người trồng cam trúng đậm, mỗi ha thu được hơn 1 đến 2 tỷ đồng là chuyện thường.

 

Cam được giá, tiêu thụ dễ dàng, nhà nhà bắt đầu lao vào trồng cam. Cả huyện Cao Phong khi đó có vài trăm ha cam, đến nay đã lên đến trên 3.000ha, cả tỉnh Hòa Bình là gần 10.000ha cây có múi. Diện tích gia tăng theo cấp số nhân, sản lượng tăng cao, nên giá cam bị đẩy xuống chưa bằng một nửa so với trước đây.

 

Giờ đây, đi đến bất cứ một xã nào của Cao Phong, nhà nhà đều nói về cây cam. Đồi cao được bà con thuê máy đánh đường đồng mức, ruộng thấp thì khơi rãnh để trồng cam.

 

Theo bà Nguyễn Thị Thi - một tư thương có tiếng ở đất Cao Phong, mọi năm xe tải kéo đến xếp hàng ùn ùn mua hàng. Năm nay, việc này gần như không thấy, xe có đến bốc hàng cũng chỉ vài tạ chứ không vài tấn một chuyến như trước. Hơn nữa, thương lái đều ép giá cam xuống, có thời điểm cam xuống rất thấp. Đây là một điều đáng lo ngại, bởi lẽ có những nhà vườn có sản lượng lên đến vài trăm tấn.

 

Hầu hết các nhà vườn ở Cao Phong năm nay đều phải tự bán lẻ, tức là các mối hàng ở các tỉnh khác về lấy, mỗi lần vài tạ đến đôi tấn, thậm chí là vài chục cân. Nhiều nhà vườn, không tìm được thị trường tiêu thụ thì bán cho các đầu mối cắt cam. Anh Nguyễn Văn Hiếu ở xã Bắc Phong, huyện Cao Phong chia sẻ, vườn cam mấy chục tấn mà ít người đến hỏi, không giống như mọi năm là họ tranh nhau vào vườn cắt cam.

 

Cam Cao Phong thơm ngon nổi tiếng đã được người tiêu dùng ưa chuộng. Hiện sức tiêu thụ cam vẫn rất lớn, tuy nhiên do trong thời gian vừa qua, các tỉnh khác cũng không ngừng mở rộng diện tích cây có múi như Yên Bái, Bắc Giang, Sơn La, Nghệ An… trung bình mỗi tỉnh cũng trên dưới 10.000ha, cam chín đồng loạt từ tháng 10 đến tháng 12 nên việc bị dồn ứ sản lượng là vô cùng lớn.

 

Trong khi đó, hầu như việc tiêu thụ cam là ở thị trường trong nước, chưa nơi nào xuất khẩu được mặt hàng này. Khi cung vượt quá cầu, giá bị đẩy xuống và bà con gặp nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ cam là điều dễ hiểu.

 

Làm gì để “cứu” các vùng cây có múi

 

Tại diễn đàn, đại diện Cục Trồng trọt đã đưa ra cảnh báo, sản xuất cây có múi của nước ta đứng trước nhiều hạn chế và thách thức. Tình trạng lạm dụng phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật hóa học làm ô nhiễm môi trường đất, nước khiến dịch bệnh bùng phát làm ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm.

 

Hơn nữa việc tiêu thụ sản phẩm cam, bưởi chủ yếu là thị trường nội địa, giá trị xuất khẩu không đáng kể. Quả cam thường có nhiều hạt, vỏ dày nên khó đưa vào chế biến sâu, trong khi công nghiệp chế biến các sản phẩm cam, bưởi nước ta chưa phát triển.

 

Lãnh đạo Cục Trồng trọt cũng đưa ra giải pháp thiết thực hiện nay là tiếp tục rà soát các vùng sản xuất cam, bưởi hàng hóa theo định hướng phát triển tập trung. Tại các vùng có điều kiện cần đầu tư thâm canh. Đối với diện tích trồng phân tán, tại các vùng không phù hợp, cần tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn nông dân chuyển đổi sang cây trồng khác có hiệu quả hơn.

 

Ngoài ra, Cục Trồng trọt khuyến cáo bà con nên trồng cam, bưởi chính vụ với cơ cấu 30-40%, trái vụ nên chiếm 2/3 diện tích, khoảng 70%.

 

Tại diễn đàn, có nhiều ý kiến của bà con nông dân cũng như các nhà khoa học  tranh luận và phản biện. Hơn bao giờ hết, bà con nông dân mong muốn sản phẩm của mình làm ra sạch bệnh, bán được giá cao.

 

Trước vấn đề này. TS Cao Văn Chí - Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây có múi thuộc Viện Nghiên cứu rau quả chia sẻ, bà con không nên sử dụng thuốc diệt cỏ trong vườn cây có múi, chỉ làm sạch cỏ gốc thường xuyên. Bón phân hữu cơ và vi sinh, sử dụng thuốc bảo vệ sinh học... Đây là những việc cần làm ngay đối với các vùng cây trồng cây có múi.

 

Ngoài ra, TS Cao Văn Chí cũng đưa ra một giải pháp rất hữu hiệu, khi thu hoạch cây có múi là sử dụng chế phẩm tạo màng phủ trực tiếp lên bề mặt quả. Chế phẩm có tác dụng làm giảm tổn thất khối lượng và giảm biến dạng hình thức do mất nước, đồng thời, làm giảm quá trình trao đổi khí dẫn tới làm chậm quá trình chín hay già hóa của quả.

Nguồn: Dân Việt

 

Xuất khẩu tôm sang loạt thị trường lớn giảm mạnh  (20/12/2018)

Xuất khẩu tôm đang có xu hướng giảm mạnh dù ngành tôm được dự báo sẽ hưởng lợi từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung...

 

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP) vừa có báo cáo về xuất khẩu tôm tháng 11/2018. Theo đó, xuất khẩu tôm Việt Nam chưa có dấu hiệu phục hồi, tiếp tục giảm 15,8% so với cùng kỳ năm 2017, đạt 304,3 triệu USD. Tổng xuất khẩu tôm Việt Nam đi các thị trường tính tới tháng 11 năm nay đạt 3,27 tỷ USD, giảm 6,9% so với cùng kỳ.

 

Theo VASEP, xuất khẩu tôm Việt Nam có xu hướng giảm là do giá tôm trong nước và thế giới giảm, nhu cầu nhập khẩu thấp từ các thị trường chính. Đầu năm 2018, do thời tiết lạnh nhiều, các nước như Mỹ, Canada có bão tuyết nên lượng tôm tiêu thụ giảm đáng kể, hàng tồn kho lớn. Bên cạnh đó, do giá tôm giảm nên giá xuất khẩu tôm của Việt Nam cũng không thể tăng.

 

"Hiện tại giá tôm thế giới đang ở mức thấp nhất, đây là điều khác biệt so với mọi năm. Nguồn cung từ các nước tăng, tôm tồn kho tại Mỹ cao, nên tôm Việt Nam không thể xuất mạnh sang thị trường này mặc dù đơn hàng còn nhiều. Theo biểu đồ giá tôm tại Mỹ của trang tin Urner Barry (UB) trong tuần thứ 3 của tháng 11/2018, chỉ số giá tôm nuôi tại thị trường này đạt mức thấp nhất trong 3 năm qua", VASEP nêu.

 

Tháng 11 năm nay, xuất khẩu tôm Việt Nam sang các thị trường lớn đều giảm mạnh như EU (-36,6%), Trung Quốc (-25,7%), Hàn Quốc (-20,7%), Mỹ (-2,8%). Tuy nhiên, xuất khẩu sang Nhật Bản tăng 11%.

 

Trong đó, EU là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam, chiếm 23,8% tổng nhập khẩu tôm của Việt Nam đi các thị trường. Hai quý đầu năm nay, nhập khẩu tôm Việt Nam sang EU tăng trưởng mạnh trong bối cảnh xuất khẩu tôm sang các thị trường lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản sụt giảm.

 

Tuy nhiên, bước sang quý 3 năm nay, nhập khẩu tôm sang thị trường này bắt đầu sụt giảm. Tháng 11 năm nay, nhập khẩu tôm sang EU giảm mạnh 36,3% với giá trị nhập khẩu sang 3 thị trường lớn nhất trong khối đều giảm ở mức 2 con số.

 

Do vậy, xuất khẩu tôm Việt Nam sang thị trường EU tính tới tháng 11 năm nay giảm nhẹ 0,1% đạt 779,7 triệu USD. Hiện tại, tôm Việt Nam vẫn duy trì được những lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ lớn khác trên thị trường EU như Ấn Độ và Thái Lan.

 

Hai đối thủ này của Việt Nam giảm dần xuất khẩu sang EU do vướng phải những vấn đề về đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng. Hơn nữa, hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) sẽ chính thức có hiệu lực trong năm 2019 sẽ tạo cơ hội cho tôm Việt Nam xuất sang EU trong năm 2019.

 

Thị trường châu Âu là thị trường lớn nhất đối với sản phẩm tôm của Việt Nam, đồng thời là nơi áp dụng mức thuế cao nhất. Nếu hiệp định thương mại với EU được ký kết, tôm Việt Nam sẽ được hưởng ưu đãi về thuế trong khi Thái Lan vẫn ở mức 20%.

 

Với Mỹ, đây là thị trường nhập khẩu  tôm lớn thứ 2 của Việt Nam, chiếm 18,1% tổng giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam đi các thị trường. Sau khi xuất khẩu tôm Việt Nam sang Mỹ giảm liên tục từ tháng 4 đến tháng 7 năm nay, xuất khẩu sang thị trường này đã phục hồi tăng trưởng dương trong 3 tháng 8, 9 và 10 năm nay. Tuy nhiên, xuất khẩu tôm sang Mỹ trong tháng 11 lại giảm nhẹ 2,8% so với cùng kỳ. Luỹ kế, 11 tháng, xuất khẩu tôm sang Mỹ đạt 593,7 triệu USD, giảm 2,7% so với cùng kỳ.

 

VASEP nhận định kết quả cuối cùng thuế chống bán phá giá tôm Việt Nam trong giai đoạn xem xét hành chính lần thứ 12 - POR12 (từ 1/2/2016- 31/1/2017) khả quan hơn nhiều so với những lần xem xét trước đó đã giúp các doanh nghiệp tôm Việt Nam yên tâm đẩy mạnh bán hàng vào thị trường Mỹ.

 

"Cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung cũng là một cơ hội cho các doanh nghiệp xuất khẩu tôm của Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường này do Mỹ có thể áp thuế 25% đối với tôm nhập khẩu từ Trung Quốc. Dự báo xuất khẩu tôm cả năm 2018 sẽ đạt khoảng gần 3,8 tỷ USD, giảm nhẹ 2% so với năm 2017", VASEP nhận định.

Nguồn: Vneconomy

 

Gạo Việt chính thức có logo, liệu có bứt phá nổi? ( 20/12/2018)

Logo thương hiệu Gạo Việt Nam được kỳ vọng là một trong những chương trình mang ý nghĩa chiến lược của ngành nông nghiệp nói chung và lúa gạo nước ta nói riêng, trên con đường khẳng định giá trị thương hiệu Gạo Việt trong khu vực và thế giới.

  

Cường quốc xuất khẩu nhưng vẫn thiếu thương hiệu

 

Thống kê của Bộ NNPTNT cho thấy, Việt Nam đang giữ vững vị thế là 1 trong 3 quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, với sản lượng xuất khẩu trung bình hàng năm từ 5 - 7 triệu tấn, kim ngạch đạt 2,5 - 3,5 tỷ USD trong giai đoạn 2011-2017.

 

Giá gạo xuất khẩu bình quân 10 tháng năm 2018 đạt 504 USD/tấn, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm 2017. Điều đáng nói, cơ cấu gạo xuất khẩu tăng đã đẩy cao giá trị xuất khẩu gạo Việt trên thị trường quốc tế.

 

Dự báo cả năm 2018, gạo xuất khẩu giữ vững đà tăng trưởng, kỳ vọng có thể đạt 6,15 triệu tấn với kim ngạch đạt 3,15 tỷ USD, tăng 5,7% về lượng và 19,6% về trị giá so với năm 2017.

 

Mấy năm qua, gạo Việt Nam xuất khẩu có thị trường ổn định, nổi bật ở khu vực châu Á với thị trường chiếm khoảng 70%. Trong đó, Trung Quốc đứng đầu, chiếm bình quân 35% trong vòng 5 năm qua; kế đến là các nước thuộc khu vực Đông Nam Á (Philippines, Indonesia và Malaysia).

 

Châu Phi cũng là thị trường chiếm tỷ trọng cao gạo nhập khẩu từ Việt Nam với trên 28% vào năm 2013, nhưng sau đó giảm mạnh do có sự cạnh tranh gạo trắng thông thường của Ấn Độ và Thái Lan và nay đã bù lại bằng loại gạo thơm do chất lượng thích hợp.

 

Ở thị trường châu Mỹ, gạo Việt Nam xuất khẩu đứng thứ ba, chiếm tỷ trọng bình quân khoảng 7%. Còn châu Đại Dương là thị trường mới nổi nhưng rất có tiềm năng và hiện đang đứng thứ 4, chiếm tỷ trọng gần 5% trong năm 2017…

 

Mặc dù chiếm lĩnh nhiều thị trường nhập khẩu nhưng trên thực tế, gạo Việt Nam vẫn chưa có thương hiệu riêng và chưa được đánh dấu trên bản đồ lương thực thế giới. Trong khi đó, nhìn sang Thái Lan, một đất nước có điều kiện sản xuất tương đương hiện đã xây dựng được 250 thương hiệu gạo khác nhau cho các sản phẩm chất lượng từ trung bình đến cao.

 

Sẽ tạo sự bứt phá?

 

Trước thực tế này, cách đây vài năm, một chương trình xây dựng logo cho gạo Việt đã được đem ra bàn thảo, thậm chí được coi là "vấn đề cấp bách" từ năm 2015. Bộ NNPTNT còn tổ chức cả một cuộc thi sáng tạo logo cho thương hiệu gạo quốc gia, với giải thưởng cao nhất lên tới 100 triệu đồng.

 

Trong khuôn khổ Festival Lúa gạo Việt Nam lần III năm 2018 được tổ chức tại Long An từ 18.12.2018, lần đầu tiên logo thương hiệu Gạo Việt Nam đã được công bố. Tại sự kiện này rất nhiều ý kiến bày tỏ kỳ vọng, việc có logo thương hiệu sẽ mở ra thời kỳ mới cho hạt gạo Việt.

 

Ông Lương Quốc Đoàn - Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam nhấn mạnh: “Festival mở ra cơ hội lớn cho các đơn vị, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh ngành hàng lúa gạo Việt Nam tăng cường hoạt động liên kết hợp tác, nghiên cứu, tìm kiếm các giải pháp chiến lược đảm bảo vai trò chủ lực của ngành đối với sự phát triển bền vững kinh tế nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và an ninh lương thực thế giới”.

 

Ông Nguyễn Quốc Toản- quyền Cục trưởng Cục Chế biến và phát triển thị trường nông sản (Bộ NNPTNT) cho rằng, định hướng đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại, thương mại nông sản, phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu để bảo hộ sản phẩm là một trong những định hướng quan trọng được Chính phủ chỉ đạo đối với ngành nông nghiệp trong thời gian tới.

 

Còn ông Nguyễn Văn Được-Phó Chủ tịch UBND tỉnh Long An thì cho biết, hiện Việt Nam xuất khẩu lúa gạo đứng thứ nhì thế giới, trong đó Long An  mỗi năm sản xuất 2,8 triệu tấn lúa. Tỉnh kỳ vọng sau khi có logo thương hiệu, thị trường trên thế giới sẽ biết thêm nhiều đến lúa gạo của Việt Nam, hạt gạo của Việt Nam sẽ tiếp tục vươn xa ra thế giới.

Nguồn: Dân Việt

Nguy cơ vỡ quy hoạch do ồ ạt mở rộng diện tích nuôi cá tra giống  (19/12/2018)

Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Long An, diện tích nuôi ươm cá tra giống năm 2016 của toàn tỉnh chỉ khoảng 300 ha thì đến nay đã lên đến gần 2.500 ha.

 

Thời gian vừa qua, giá ca tra giống luôn ở mức cao, do đó người dân các huyện vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh Long An liên tục mở rộng diện tích nuôi, bất chấp những khuyến cáo của các cơ quan chức năng. Điều này gây ra nhiều nguy cơ phá vỡ quy hoạch sử dụng đất của địa phương, nguồn cung vượt cầu, ô nhiễm môi trường…

 

Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Long An, diện tích nuôi ươm cá tra giống năm 2016 của toàn tỉnh chỉ khoảng 300 ha thì đến nay đã lên đến gần 2.500 ha. Diện tích nuôi cá tra tự phát bắt đầu nở rộ vào cuối năm 2017 và đầu năm 2018 với khoảng 1.300 ha, tập trung chủ yếu ở huyện Tân Hưng.

 

Thời điểm đó, UBND tỉnh Long An đã ra văn bản yêu cầu các sở, ngành, địa phương liên quan kiểm tra, chấn chỉnh tình trạng trên. Thế nhưng, diện tích nuôi cá tra vẫn không ngừng tăng lên, đặc biệt là ở huyện Tân Thạnh với khoảng 1.000 ha.

 

Chỉ tính riêng khoảng thời gian từ tháng 5/2018 đến nay, con số đã tăng thêm đến gần 1.200 ha. Điều đáng nói là phần lớn các diện tích nuôi đều do người dân tự ý chuyển đổi từ đất trồng lúa, không nằm trong vùng quy hoạch phát triển thủy sản.

 

Đến địa bàn các xã như Tân Bình, Tân Hòa… của huyện Tân Thạnh hay Hưng Điền, Hưng Điền B của huyện Tân Hưng, dễ dàng nhìn thấy những ao cá rộng lớn nằm dày đặc dọc các tuyến kênh, tuyến đường.

 

Ở những nơi khác, người dân vẫn tiếp tục thuê máy xúc về để đào ao. Điều này thể hiện rõ nguy cơ các diện tích nuôi ươm cá tra giống tiếp tục mở rộng trong thời gian tới nếu không có biện pháp xử lý dứt điểm.

 

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng trên là do giá ca tra giống hiện nay luôn ở mức cao, dao động ở mức 48.000 đồng/kg đối với cá cỡ 30 con/kg; từ 80.000 – 100.000 đồng/kg đối với cá cỡ 100 con/kg. Đồng thời, đầu ra sản phẩm tiêu thụ khá dễ dàng do nhu cầu nuôi cá tra thương phẩm ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp tăng cao.

 

Anh Trần Thanh Khen, thương lái chuyên thu mua cá tra giống cho biết: “Năm nay, bà con Long An đào rao rất nhiều, gấp khoảng 3 lần năm ngoái. Nhưng số lượng vẫn đang thiếu so với nhu cầu. Mỗi ngày tôi có thể thu mua từ 5 tấn cho đến 50 tấn vẫn tiêu thụ hết. Nói chung là có bao nhiêu là mua bấy nhiêu”.

 

Chị Nguyễn Thị Thanh Nga, xã Tân Hòa, huyện Tân Thạnh lý giải nguyên nhân gia đình quyết định đào ao nuôi cá là vì  thấy người ta làm lãi quá nên cũng làm theo. Chị làm vụ đầu tiên thu hoạch đỡ nhiều hơn làm lúa. Hiện chị mới thả nuôi hơn hai tháng nay với diện tích khoảng 3 công (3.000m²), chi phí ban đầu hơn 50 triệu đồng mà lứa đầu tiên bán được gần 90 triệu đồng.

 

Theo người dân địa phương, việc đầu tư nuôi ươm cá tra giống giúp bà con thu lợi nhuận rất lớn. Trung bình mỗi năm có thể nuôi trên 4 vụ, lợi nhuận đạt từ 700 – 800 triệu đồng/ha, cá biệt có những hộ nuôi kinh nghiệm, chăm sóc tốt có thể thu lợi nhuận lên đến 2 tỷ đồng/ha. Do vậy, nhiều người sẵn sàng đầu tư đào ao nuôi cá với hy vọng thu lợi trong khoảng vài năm rồi sau đó có lỗ cũng không sao.

 

Dù lợi nhuận thu về khá lớn, nhưng việc liên lục mở rộng diện tích nuôi cá tiềm ẩn nhiều rủi ro như nguồn con giống không đảm bảo. Các diện tích nằm trong vùng quy hoạch trồng lúa nên hệ thống kênh mương không phù hợp cho việc nuôi thủy sản. Người nuôi xả nước trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm và lây lan mần bệnh; diện tích nuôi phát triển nhanh dẫn đến nguy cơ cung vượt cầu…

 

Bà Đinh Thị Phương Khanh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Long An cho biết: “Điều mà chúng tôi lo lắng hiện nay và đã có báo cáo về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là việc phát triển nhanh diện tích nuôi cá giống quá nhanh trong khi diện tích nuôi thương phẩm không tăng đáng kể thì việc dôi dư đầu ra là sẽ xảy ra.

 

Thứ hai, là các diện tích nuôi cá giống hiện nay phần lớn đang nằm trong vùng quy hoạch sản xuất lúa, cái đáng ngại nhất là hệ thống kênh không đảm bảo đúng quy trình của việc nuôi thủy sản. Khi cá bị bệnh thì người dân cứ xả trực tiếp ra môi trường mà không có thông báo, về lâu dài gây ra hệ lụy rất lớn.

 

Cụ thể hiện nay, trên địa bàn tỷ lệ ươm giống thành công chỉ khoảng 8%; nguồn nước phục vụ cho việc nuôi cá bị ô nhiễm nặng với hàm lượng nitate vượt quá 4 lần so với quy định, bị nhiễm một số vi khuẩn gây bệnh trên cá…”.

 

Bà Khanh cho biết thêm, trước thực trạng tăng nhanh diện tích nuôi cá tra giống, ngành nông nghiệp đã triển khai nhanh về tập huấn chuyên môn kỹ thuật, lựa chọn con giống cho bà con nhằm hạn chế tối đa rủi ro.

 

Đồng thời, tham mưu UBND tỉnh có nhiều văn bản chỉ đạo các sở ngành liên quan, và các địa phương có diện tích tăng đột biến. Trước hết, là hướng dẫn người dân kê khai đăng ký nuôi đối với các diện tích trong quy hoạch, đối với diện tích nằm ngoài quy hoạch phải có biện pháp chấn chỉnh kịp thời.

 

Tới thời điểm này, UBND tỉnh đã ra 3 lần ra văn bản chỉ đạo, mới đây nhất đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường thành lập đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra lại việc người dân tự ý chuyển đổi đất trồng lúa sang nuôi cá, từ đó tiếp tục tham mưu hướng xử lý.

 

Dù UBND tỉnh Long An đã nhiều lần chỉ đạo, các cơ quan chuyên môn khuyến cáo, thậm chí huyện Tân Hưng đã tiến hành xử phạt 59 trường hợp tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ trồng lúa sang nuôi cá trái với quy định với tổng số tiền 880 triệu đồng. Thế nhưng, các diện tích nuôi cá tra giống trên địa bàn không những không giảm mà còn tăng lên nhanh chóng do nguồn lợi nhuận thu về quá lớn.

Nguồn: TTXVN