CỔNG THÔNG TIN SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG
nông nghiệp an giang
Điểm tin thị trường

Tin thị trường ngày 17/10/2019

09:00 17/10/2019

Giá heo tăng cao nhưng không dễ ăn! - Xuất khẩu hồ tiêu sang Myanmar gặp bất lợi - Trồng phúc bồn tử đen hái trái suốt 10 năm, bán giá 200.000 đồng/kg - 195.000 tấn thịt gà đông lạnh, giá chỉ 20.000 đồng/kg đã về Việt Nam - Ồ ạt trồng trên đất phèn, sầu riêng có nguy cơ “khủng hoảng thừa”.

 

Giá heo tăng cao nhưng không dễ ăn!  (17/10/2019)

Như NNVN dự báo, sau khi vượt ngưỡng 60.000 đồng, hiện giá heo hơi tại miền Bắc đã chững lại và duy trì sự ổn định ở mức 62.000 - 64.000 đồng/kg, trong khi đó tại miền Nam giá heo đã gần tiệm cận phía Bắc.

Ngay sau khi giá heo hơi tăng mạnh trên 10 giá chỉ trong vòng 8 ngày (từ 4/10 - 11/10) nhiều nguồn tin và dự luận nghi ngờ có hay không việc thao túng tăng giá heo thịt để bán heo giống cho dân?

Trao đổi với chúng tôi về nghi vấn này, ông Nguyễn Xuân Dương, Quyền Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NN-PTNT) khẳng định, giá heo tăng như hiện nay là hoàn toàn bình thường theo đúng quy luật cung cầu thị trường. Ông Dương cho rằng, mức giá trên vẫn trong tầm kiểm soát, không có chuyện thao túng hay đẩy giá heo hơi lên cao để bán giống.

Ông Nguyễn Xuân Dương chia sẻ, chăn nuôi heo tại nước ta gặp khủng hoảng thị trường rồi dịch dã liên miên từ năm 2016 đến nay nên đây là thời gian vàng để người chăn nuôi gỡ gạc lại phần nào mất mát quá lớn trong 3 năm qua. Từ đó mới có sức lực và động lực để tiếp tục duy trì, chiến đấu với dịch tả heo Châu Phi rất cam go trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, theo Quyền Cục trưởng Nguyễn Xuân Dương, năm 2019 này gia cầm tăng trưởng trên 13%, trâu bò trên 5%, thủy sản gần 7% cộng với lượng heo doanh nghiệp, trang trại, người dân vẫn giữ được, nếu điều hành tốt chắc chắn giá heo hơi tại Việt Nam sẽ không tăng phi mã khủng hoảng như tại Trung Quốc.

Đúng như lời ông Nguyễn Xuân Dương chia sẻ, qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy mặc dù giá heo hơi trong nước đã tăng lên trên 60.000 đồng/kg, song thực tế lợi nhuận mà các doanh nghiệp thu về không quá lớn như những phép tính toán cộng trừ nhân chia.

Lãnh đạo một tập đoàn chăn nuôi lớn tại phía Bắc chia sẻ, bình thường giá thành 1kg heo hơi khoảng 37.000 - 39.000 đồng/kg, song khi dịch tả Châu Phi bùng phát và kéo dài phải cộng thêm chi phí sát trùng, khử trùng, vôi bột, chi phí tăng lương, chế độ phụ cấp cho công nhân ăn ở tại trại cùng rất nhiều chi phí gián tiếp khác khiến giá thành heo hơi tăng lên khoảng 42.000 - 43.000 đồng/kg.

Đấy mới chỉ là những khoản chi phí cứng, giá thành heo còn phụ thuộc rất lớn vào việc giữ được đầu đàn và tỉ lệ hao hụt. Và trong bối cảnh dịch tả heo Châu Phi tiếp tục hoành hành, có thể gõ cửa bất cứ trang trại, doanh nghiệp nào như hiện nay không ai dám nói mạnh.

“Chỉ một trại heo dính dịch ngay lập tức giá thành heo của bất cứ trang trại, doanh nghiệp nào sẽ tăng vọt lên trên 50.000 đồng/kg ngay. Mặc dù giá heo đang khá cao, nhưng không hề dễ ăn một chút nào.

Do đó, dù là doanh nghiệp bán heo giống nhưng chúng tôi chân thành khuyên các hộ chăn nuôi nông hộ, nhỏ lẻ không nên vào đàn lúc này vì nguy cơ tái bùng phát dịch tả heo Châu Phi vẫn còn ở cấp độ rất nguy hiểm và thực tế rất nhiều hộ dân vừa qua đã bị tái dịch khi tự ý tái đàn”, lãnh đạo một doanh nghiệp chăn nuôi heo tại Bắc Ninh chia sẻ.

Theo số liệu thống kê mới nhất của ngành thú y, lượng heo bị chết hoặc tiêu hủy do dịch tả heo Châu Phi đến thời điểm hiện tại khoảng gần 6 triệu con/30 triệu đầu heo tại Việt Nam, chiếm xấp xỉ 20% tổng đàn và trên 10% sản lượng thịt

Theo khảo sát của chúng tôi, Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P Việt Nam hiện là doanh nghiệp sở hữu đàn heo nái lớn nhất Việt Nam với quy mô được dự đoán trước khi xảy ra dịch tả heo Châu Phi vào khoảng 350.000 nái.

Tuy nhiên, do là doanh nghiệp FDI hoạt động theo mô hình liên kết với nông dân gia công chăn nuôi heo nên nhiều năm gần đây C.P Việt Nam gần như không bán heo giống ra bên ngoài mà toàn bộ heo con của doanh nghiệp này được đưa vào hệ thống chăn nuôi gia công nên giá heo giống cao hay thấp với C.P không quan trọng.

Được đánh giá đứng vị trí thứ 2 về quy mô đàn nái tại Việt Nam với khoảng 30.000 con, Tập đoàn Dabaco Việt Nam với gần 10 doanh nghiệp, công ty con chuyên về chăn nuôi heo nái và heo thịt có bán heo giống ra bên ngoài.

Nhưng ngày 6/8/2019, Chủ tịch Tập đoàn Dabaco Nguyễn Như So đã ban hành văn bản quy định mức giá bán heo con 6,5 - 7kg từ ngày 7/8 tối thiểu phải từ 1,9 - 2 triệu đồng/con, trong khi giá bình quân ngoài thị trường khoảng 1,5 - 1,7 triệu đồng/con heo 21 ngày tuổi sau cai sữa.

Đi sâu vào tìm hiểu chúng tôi được biết, đây chỉ là động thái của ban lãnh đạo Tập đoàn Dabaco nhằm khuyến khích, định hướng các công ty con đẩy mạnh việc tự chăn nuôi heo thịt thay vì bán heo giống.

Thực tế, hiện nay rất nhiều công ty con trước đây vốn chỉ nuôi nái và bán giống của Tập đoàn Dabaco đã và đang đi thuê hoặc hợp tác với các trang trại để gia công chăn nuôi heo thịt. Hiện Dabaco đang bán heo giống sau cai sữa 21 ngày ra thị trường với mức giá trên 2 triệu đồng/con, nhưng thực tế người dân rất khó mua được.

Trước tình hình giá heo có xu hướng tăng, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ chỉ đạo Bộ NN-PTNT chủ trì, phối hợp với các bộ liên quan như Tài chính, Công thương và Tổng cục Thống kê khẩn trương đánh giá tình hình cung cầu thịt heo bao gồm cả heo hơi và heo thành phẩm từ nay đến cuối 2019.

Từ đó, đưa ra kịch bản, giải pháp ổn định giá cả, cung cầu thịt heo trong thời gian tới, đặc biệt là các dịp lễ và Tết Nguyên đán Canh Tý. Trong đó không loại trừ phương án nhập khẩu thịt từ các thị trường có quan hệ thương mại với Việt Nam.

Ngoài ra, Tổng cục Thống kê phối hợp với các cơ quan liên quan, đánh giá tác động của giá thịt heo tới chỉ số giá tiêu dùng CPI. Từ đó có giải pháp đảm bảo mục tiêu kiểm soát CPI trong năm 2019 và 2020.

Nguồn: Báo nông nghiệp Việt Nam

 

 

Xuất khẩu hồ tiêu sang Myanmar gặp bất lợi  (17/10/2019)

Bộ Công thương vừa có khuyến cáo các doanh nghiệp Việt khi xuất khẩu hồ tiêu sang Myanmar.

Theo thông tin từ Thương vụ Việt Nam tại Myanmar, Công ty Ngwe Galon Min của Myanmar (địa chỉ: 446/447, Konzedan Street, Thein Gyi Zay (A) Yone, Pabedan Tsp, Yangon) đã bị Hải quan Myanmar đưa vào danh sách theo dõi.

Đồng thời, các lô hàng hồ tiêu do doanh nghiệp này nhập khẩu nhưng không làm thủ tục nhận hàng sẽ không được tạo điều kiện cho tái xuất về Việt Nam mà tiến hành đấu giá, sung công quỹ.

Trước đó, một số doanh nghiệp Việt xuất khẩu hạt tiêu trắng và tiêu đen sang Myanmar trong thời gian từ giữa năm 2018 đến đầu năm 2019 thường xuyên bị công ty Ngwe Galon Min (nhà nhập khẩu) từ chối làm thủ tục nhận hàng với lý do: gặp khó khăn về tài chính, chất lượng hạt tiêu không đảm bảo…

Công ty này chỉ thanh toán tiền đặt cọc (10-30% giá trị lô hàng), trì hoãn thanh toán và thậm chí từ chối nhận hàng khi hàng đã đến cảng Yangon, Myanmar.

Theo Thương vụ tại Myanmar, lý do khiến doanh nghiệp Myanmar không nhận hàng chủ yếu do giá tiêu xuống thấp vào thời điểm giao hàng so với dự kiến ban đầu. Một số nhà xuất khẩu Việt Nam đã phải làm thủ tục tái xuất về nước để tránh thiệt hại.

Nguồn: Thế giới tiếp thị

 

 

Trồng phúc bồn tử đen hái trái suốt 10 năm, bán giá 200.000 đồng/kg  (16/10/2019)

Với giá bán 200.000 đồng một kg, phúc bồn tử đen trồng thành công ở Đà Lạt (Lâm Đồng) có nguồn tiêu thụ ổn định và rất cạnh tranh so với hàng nhập.

Sau hơn 2 năm trồng thử nghiệm 11 giống nhập từ Israel, ông Vũ Nhuần ở Phường 8, TP Đà Lạt đã chọn ra được 2 loại phúc bồn tử cho trái màu đen thích hợp với điều kiện thời tiết Đà Lạt và trồng trong môi trường nhà kính để phát triển thương phẩm.

Theo ông Nhuần, hơn 10 năm trước, cây phúc bồn tử hay còn gọi là mâm xôi đã du nhập vào Đà Lạt - Lâm Đồng từ Pháp. Giống cũ này cho quả màu đỏ và nhỏ. Diện tích cây phúc bồn tử lúc đó cũng đã phát triển được khoảng vài trăm hecta, chủ yếu trồng ngoài trời như dâu tằm. Tuy nhiên, do sản lượng thấp dẫn tới hiệu quả kinh tế không cao nên nhiều người đã bỏ loại cây trồng này, hiện chỉ còn duy trì ở các huyện Đức Trọng, Lâm Hà với diện tích khoảng vài chục hecta, sản lượng khoảng 500 kg một ngày.

Giống phúc bồn tử đen mà ông Nhuần vừa đưa vào sản xuất là loại nhập khẩu từ Israel, quả to, có vị chua, ngọt nhẹ và béo, trọng lượng khoảng 80-90 quả một kg.

Ông Nhuần cho biết, phúc bồn tử là một loại cây khá dễ trồng, nhưng hiệu quả ra sao phụ thuộc nhiều vào cây giống. Không ít người đã trồng thử, nhưng do không biết chọn lọc đầu vào dẫn tới cây phát triển rất tốt nhưng không cho quả, hoặc quả rất ít.

Phúc bồn tử là một loại cây lâu năm, từ khi trồng tới lúc cho thu hoạch quả khoảng 8 tháng và nếu chăm sóc tốt có thể cho thu hoạch kéo dài tới 10 năm.

Diện tích vườn phúc bồn tử đen của ông Nhuần rộng 1.300 m2, đã thu hoạch được 8 tháng và hiện mỗi ngày cho 14-17 kg quả, với giá bán tươi loại một là 200.000 đồng một kg. Trái loại 2 kích cỡ nhỏ hơn, ông Nhuần để lại ủ lên men lấy nước cốt bán với giá 500.000 đồng một lít.

Ông Nguyễn Văn Chương tại làng hoa Hà Đông cho biết sau khi được ông Nhuần cung cấp giống và hướng dẫn kỹ thuật đã chuyển 500 m2 nhà kính vốn trước đây trồng hoa cúc sang trồng loại cây mới này. Chi phí đầu tư ban đầu khá cao vì một cây giống có giá 80.000 đồng, nhưng bù lại mật độ trồng thưa, chiều rộng luống là 1,5 mét và trồng chỉ một hàng, khoảng cách cây từ 1,5 đến 1,7 mét. Ngoài ra phúc bồn tử cho trái liên tục.

Theo ông Vũ Nhuần, xét về hiệu quả kinh tế, so với cây dâu tây, công chăm sóc phúc bồn tử đen nhẹ hơn, sản lượng khá cao và đều, giá bán gần như tương đương với những loại dâu tây giống mới.

Về đầu ra lâu dài, ông Nhuần tự tin không đáng ngại vì người trồng có thể trực tiếp làm ra một số sản phẩm từ phúc bồn tử như sấy khô, ủ lấy nước cốt..., chứ không hoàn toàn phụ thuộc tiêu thụ trái tươi. Thị trường lâu dài mà những nhà vườn như ông Nhuần nhắm tới vẫn là tiêu thụ nội địa, vì muốn xuất khẩu phải có số lượng lớn và đòi hỏi nguồn giống có bản quyền.

Hiện 15 hộ gia đình trồng phúc bồn tử đen ở Đà Lạt đều có kênh tiêu thụ giống nhau và đồng nhất về giá bán. So với hàng xách tay giá trên dưới 1,2 triệu đồng một kg, giá bán phúc bồn tử của các hộ trồng trong nước đang rất cạnh tranh.

Nguồn: Vnexpress

 

 

195.000 tấn thịt gà đông lạnh, giá chỉ 20.000 đồng/kg đã về Việt Nam  (16/10/2019)

Trong 195.000 tấn thịt gà nhập khẩu về thị trường nội địa từ đầu năm đến nay, tập trung vào hai loại là thịt gà đông lạnh nguyên con và thịt gà đông lạnh đã chặt, chiếm 98% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó, đùi gà chiếm tỉ trọng nhập khẩu lớn nhất 71,5%.

Bộ Công Thương vừa công bố số liệu về nhập khẩu thịt gà đông lạnh về Việt Nam trong những tháng đầu năm 2019, với những con số đáng giật mình.

Cụ thể, theo số liệu công bố của Tổng cục Hải quan, trong 8 tháng năm 2019, nhập khẩu thịt gà các loại đạt 195.000 tấn, trị giá 166,6 triệu USD, tăng 51,4% về lượng và tăng 48,0% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Việt Nam nhập khẩu thịt gà các loại từ các nước tiên tiến, có chất lượng cao như Hoa Kỳ, bình quân chiếm 61,8% tổng lượng nhập khẩu; tiếp theo là Brazil chiếm 13,1% và Hàn Quốc chiếm 12,3%.

Đáng chú ý, thịt gà nhập khẩu thường được tập trung vào hai loại chính, gồm thịt gà đông lạnh nguyên con và thịt gà đông lạnh đã chặt (mã số HS 020712 và mã số HS 020714) chiếm 98% tổng kim ngạch nhập khẩu thịt gà; trong đó, đùi gà chiếm tỷ trọng nhập khẩu lớn nhất (71,5%); tiếp theo là chân gà (8,7%), gà nguyên con (8,2%), cánh gà (5,8%), các bộ phận khác (5,8%)

Nhìn vào số liệu thống kê trong các tháng đầu năm 2019, so với năm 2018, có thể thấy lượng nhập khẩu thịt gà tăng trong giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2019 nhưng đã giảm dần từ tháng 6 đến nay.

Nhưng, giá gà nhập khẩu lại rẻ giật mình. Giá nhập khẩu bình quân mặt hàng này trong 8 tháng 2019 là 850 USD/tấn, tương đương 19.500 - 20.000 đ/kg. Mức giá này chưa tính thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, bảo quản kho lạnh...và đang có xu hướng tăng mạnh từ tháng 6 đến nay.

Việc gà nhập khẩu gia tăng quá mạnh từ đầu năm nay ít nhiều đều tác động đến các hộ chăn nuôi gà trong nước, mặc dù Bộ Công Thương cho rằng, giá gà trong nước giảm sâu thời gian qua là do phát triển nóng chứ không phải do ảnh hưởng từ lượng thịt gà nhập khẩu.

Chẳng hạn, tại các tỉnh phía Bắc, vào thời điểm giữa tháng 9 năm 2019, giá gà chuyên thịt nuôi công nghiệp, nguyên lông dao động từ 32.000 - 33.000 đ/kg (quy ra giá thịt gà khoảng 37.000 - 39.000 đ/kg), giảm 3% so với cùng kỳ 2018.

Giá thịt gà ta nhìn chung vẫn giữ được ổn định, chỉ giảm nhẹ so với cùng kỳ 2018, với mức giảm từ 3 - 5%, thậm chí nhiều nơi vẫn giữ mức giá tốt.

Nhưng, giá thịt gà công nghiệp (lông trắng, lông mầu) tại các tỉnh thuộc khu vực Đông Nam Bộ - nơi tập trung các trang trại chăn nuôi gia cầm, gia súc lớn của cả nước, tại thời điểm giữa tháng 9 năm 2019, đã giảm 35 - 40% so với cùng kỳ 2018, xuống còn 16.000 - 18.000 đ/kg.

Bộ Công Thương cho biết, về nguồn cung thịt gia cầm phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong nước, trong các năm qua, ngành chăn nuôi gia cầm phát triển khá mạnh, tốc độ tăng trưởng sản lượng thịt gà các loại sản xuất trong nước giai đoạn 2015 - 2018 đạt 5,6%/năm, riêng tính trong 8 tháng năm 2019, tổng đàn gia cầm của cả nước đã tăng hơn 10% so với cùng kỳ năm 2018.

Đơn cử, tỉnh Đồng Nai - là địa phương chăn nuôi trọng điểm heo, gà của cả nước, khi dịch bệnh tả heo châu Phi lan rộng, nhiều cơ sở chăn nuôi heo ở tỉnh Đồng Nai nói riêng và khu vực Đông Nam Bộ nói chung đã chuyển sang chăn nuôi gà. Tính đến giữa tháng 9 năm 2019, tổng đàn gà của Đồng Nai đạt 24,8 triệu con,tăng 16,8% so với tháng 4/ 2019.

Theo Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam Bộ, nguyên nhân là do khi dịch tả heo châu Phi lan rộng, nhiều hộ chăn nuôi heo ở khu vực Đông Nam Bộ dự báo người tiêu dùng sẽ không ăn thịt heo, vì vậy đã chuyển sang chăn nuôi gà công nghiệp ồ ạt, làm tăng đàn tự phát, thiếu kiểm soát.

Việc phát triển “nóng” ngành chăn nuôi gà tại khu vực này đã gây sức ép cho các hộ, các cơ sở chăn nuôi bán giảm giá để cắt lỗ, thu hồi vốn. Có thời điểm mỗi tuần, khu vực Đông Nam Bộ cho xuất chuồng đến 2,5 triệu con gà. Đây là những nguyên nhân chính đẩy giá gà công nghiệp tại khu vực Đông Nam Bộ giảm sâu trong thời gian tháng 8 và tháng 9 năm 2019.

Nguồn: Báo Đầu tư

 

 

Ồ ạt trồng trên đất phèn, sầu riêng có nguy cơ “khủng hoảng thừa”  (16/10/2019)

Từ chính vụ sầu riêng tháng 8/2019 đến nay giá sầu riêng xập xình lên xuống, trong khi cây sầu riêng ồ ạt “bén duyên” trên đất phèn. Viễn cảnh khá mờ mịt cho nông dân trồng sầu riêng hiển hiện.

Bất luận các chuyên gia nông nghiệp cảnh báo, nông dân miền Tây vẫn ồ ạt trồng sầu riêng trên đất phèn bởi hấp lực về giá. Trước đây xã Thanh Hòa (thị xã Cai Lậy) được xem là “thủ đô mít Thái” của Tiền Giang. Từ đất lúa, nhà nhà chuyển sang trồng mít và phất lên.

Tuy nhiên, hiện nay rất nhiều nông dân đốn mít chuyển sang trồng sầu riêng khi thấy giá tốt. Do là đất phèn, nông dân buộc phải lên mô (ụ) theo quy cách 1,5m x 1m để trồng sầu riêng. Dưới chân mô, nông dân đào rãnh sâu quanh rồi dùng lân để xả phèn.

Sở NNPTNT tỉnh Tiền Giang cho biết, toàn tỉnh có 13.000ha sầu riêng, sản lượng 200.000 tấn/năm. Trong đó, khá nhiều diện tích trồng sầu riêng  trồng trên đất phèn. Tại khu vực Đồng Tháp Mười phèn chua nặng, một số huyện của tỉnh Long An như: Vĩnh Hưng, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Mộc Hóa đã trồng hơn 100ha sầu riêng.

Với cách thức này, ông Đỗ Hiếu - một nông dân trồng sầu riêng (xã Thanh Hòa) cho biết, 3 năm trước đã trồng 6.000m2 đất với gần 150 gốc sầu riêng. “Hiện, sầu riêng sắp cho thu hoạch” - ông thổ lộ.

Theo ông Phan Văn Nhanh - Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Thanh Hòa, khoảng 90% nông dân Thanh Hòa trồng sầu riêng. Hiện, xã có 185ha sầu riêng và sẽ còn phát triển tiếp.

Trong khi đó, theo Sở NNPTNT tỉnh Long An, tại khu vực Đồng Tháp Mười phèn chua nặng, một số huyện như: Vĩnh Hưng, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Mộc Hóa đã trồng hơn 100ha sầu riêng. Ông Lê Văn Hậu (huyện Mộc Hóa) cho biết, năm 2015, ông thuê máy đào kênh, xổ phèn, tưới tiêu, đắp mô đất để vừa rửa phèn để trồng khoảng 4ha sầu riêng giống Thái Lan và giống Mã Lai, với vốn đầu tư cải tạo đất và mua cây giống hơn 1,5 tỷ đồng. Đến nay, có gần một nửa số cây sầu riêng đang đơm bông, kết trái.

“Chừng hơn năm nữa tôi sẽ thu lãi từ sầu riêng từ 200 - 250 triệu đồng/ha/vụ” - ông nhẩm tính.

Ông Nguyễn Chí Thiện - Phó Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Long An nhận định, diện tích một số loại cây ăn quả, trong đó có sầu riêng đang có xu hướng tăng nhanh do nhiều địa phương chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng một số loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao hơn. Song, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng là do người dân tự phát, không phải theo kế hoạch, quy hoạch của địa phương nên diện tích sản xuất nhỏ lẻ, manh mún không tập trung.

Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NNPTNT), năm 2018, Trung Quốc vẫn đứng đầu về nhập khẩu rau quả của Việt Nam với giá trị là 2,41 tỷ USD. Tuy nhiên, hiện nay, Trung Quốc hạn chế thu mua nhiều loại trái cây Việt Nam trong đó có trái sầu riêng. Nguyên nhân, trái sầu riêng lâu nay chỉ xuất theo đường tiểu ngạch.

Thời gian gần đây, Trung Quốc thắt chặt các mặt hàng nông sản ngoại nhập, yêu cầu nhập theo đường chính ngạch, sầu riêng Việt Nam phải rõ nguồn gốc xuất xứ, chỉ tiêu chất lượng, gắn nhãn mác... Sầu riêng của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của họ nên bị cấm và ứ đọng trong nội địa.

Ông Huỳnh Tấn Lộc - Giám đốc HTX Sầu riêng Ngũ Hiệp (xã Ngũ Hiệp, huyện Cai Lậy, Tiền Giang) cho biết, thời gian gần đây, việc xuất khẩu sầu riêng sang thị trường Trung Quốc đang gặp rất nhiều khó khăn.

“Trung Quốc dựng rào cản kỹ thuật với trái sầu riêng bằng việc truy xuất nguồn gốc, khiến việc xuất khẩu sầu riêng của HTX đi vào ngõ cụt” - ông Lộc chia sẻ.

Mỗi năm HTX thu hoạch khoảng 1.500 tấn sầu riêng với thương hiệu “Sầu riêng Cai Lậy”. 70% sản lượng này xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc. Số còn lại xuất sang thị trường Nhật Bản và bán nội địa. HTX đã có 14,5ha sầu riêng sản xuất theo hướng sạch. Tuy nhiên, số diện tích này đã được làm cách đây 5 năm bằng một dự án của tỉnh hỗ trợ. Những năm qua, HTX không mở rộng diện tích làm sầu riêng sạch.

“Nếu chỉ bán sầu riêng cho thị trường trong nước, khả năng HTX sẽ ngừng hoạt động” - ông Lộc cho biết.

Theo ông Nguyễn Hoàng Cung - Giám đốc Công ty Đại Thuận Thiên (Cần Thơ) chuyên xuất khẩu trái cây, mặc dù trái sầu riêng vẫn còn mang lại lợi nhuận cao cho bà con nông dân, nhưng kiểu phát triển và sản xuất như hiện nay rất đáng lo ngại.

“Nhiều năm làm trong nghề thu mua và xuất khẩu trái cây, tôi thấy bà con nông dân chỉ làm được 1/10 sầu riêng là đủ chuẩn xuất khẩu (loại 1). Số còn lại bán trong thị trường nội địa hoặc xuất tiểu ngạch sang Trung Quốc với giá thấp” - ông Cung nhận xét.

Cũng theo ông Cung, hiện nay, Trung Quốc chỉ nhập khẩu sầu riêng Việt Nam khi đã nhập đủ sầu riêng từ Thái Lan, Malaysia, bởi chất lượng sầu riêng từ 2 nước này tốt hơn sầu riêng Việt Nam. Vì vậy, với việc diện tích tăng ồ ạt như hiện nay, ông Cung cho rằng rất khó để chấn chỉnh chất lượng, thậm chí sắp tới sầu riêng sẽ gặp nguy cơ khủng hoảng thừa.

Nguồn: Dân Việt