CỔNG THÔNG TIN SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG
nông nghiệp an giang
Điểm tin thị trường

Tin thị trường ngày 05/11/2019

09:00 05/11/2019

Hoa dâm bụt cánh kép hút hàng - Xuất khẩu rau quả sụt giảm do căng thẳng Mỹ - Trung - Khốn đốn với đường nhập lậu - Bò Brazil sắp 'đại chiến' bò Úc tại Việt Nam - Nông dân Ba Tri trúng vụ hành tím.

 

Hoa dâm bụt cánh kép hút hàng  (05/11/2019)

Bà Nguyễn Thu Hoa ở khóm Sa Nhiên, phường Tân Quy Đông, thành phố Sa Đéc (Đồng Tháp) cho biết, giống hoa này được bà nhập từ nước ngoài, trồng bằng phương pháp chiết cành, trong thời gian 4 tháng là có hoa xuất bán.

Điểm nổi bật là cây ra hoa quanh năm, mỗi mắc lá là mỗi hoa với nhiều màu sắc khác nhau, đặc biệt hoa cánh kép khi nở có nhiều cánh như hoa hồng. Cây có chiều cao hơn 1 mét nên được nhiều người chọn mua trồng trước cổng nhà, hàng rào, sân vườn. Hiện tại, tùy theo chiều cao và tỷ lệ hoa, giá bán mỗi cây dao động từ 50 - 75 ngàn đồng, cao gấp nhiều lần so với những giống dâm bụt khác.

Bà Hoa cho biết, đến nay bà đã cung ứng cho thị trường khoảng 3 ngàn cây. Do hoa đẹp và mới, lạ nên rất nhiều khách hàng đặt mua, cung không đủ cầu.

Nguồn: Báo nông nghiệp Việt Nam

 

 

Xuất khẩu rau quả sụt giảm do căng thẳng Mỹ - Trung  (05/11/2019)

Trung Quốc giảm xuất hàng sang Mỹ, tập trung tiêu thụ nội địa nên lượng trái cây nhập từ Việt Nam giảm mạnh.

Theo Cục Chế biến và Phát triển Thị trường Nông sản (Bộ Công Thương), xuất khẩu rau quả 10 tháng đầu năm ước đạt 3,1 tỷ USD, giảm 5,6% so với cùng kỳ năm 2018.

9 tháng đầu năm, xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc đạt 1,9 tỷ USD, giảm 13,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, sầu riêng, măng cụt, nhãn, khoai lang, dưa hấu giảm 20-50% so với cùng kỳ.

Trái ngược với xuất khẩu, nhập khẩu rau quả 10 tháng đầu năm ước đạt 1,5 tỷ USD, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, rau ước đạt 552 triệu USD, tăng 17,3% so với cùng kỳ 2018 và mặt hàng quả đạt 952 triệu USD, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2018. Thái Lan và Trung Quốc là hai thị trường nhập khẩu rau quả lớn nhất, tiếp theo là Mỹ, Australia, Myanmar...

Hiện, trong nước, giá chanh tăng cao, ở mức 15.000-16.000 đồng một kg do nguồn cung hạn chế. Nhiều nông dân ở các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ, Bắc Giang... đã chặt chanh làm củi. Cùng với chanh, giá mít Thái ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cũng ở mức trên 50.000 đồng một kg, có thời điểm giá lên đến 70.000 đồng một kg.

Còn với thanh long, giá dao động khoảng 5.000-8.000 đồng một kg, cao hơn so với chính vụ năm trước. Thanh long Bình Thuận được thương lái và các doanh nghiệp thu mua chủ yếu để xuất khẩu qua Trung Quốc. Một lượng ít trái cây ở vườn VietGAP, GlobalGAP được xuất khẩu qua các thị trường khó tính như Hàn Quốc, Australia, Nhật Bản...

Nguồn: Vnexpress

 

 

Khốn đốn với đường nhập lậu  (05/11/2019)

Sản lượng đường trong nước vốn chưa đáp ứng đủ nhu cầu, lại đang có xu hướng suy giảm khá nhiều, nhưng giá đường vẫn rất thấp bởi đường nhập lậu ồ ạt tràn vào, gây khó khăn lớn cho cả nhà máy và nông dân trồng mía.

Theo ông Lê Hoàng Thái, Quyền chủ tịch Hiệp hội Mía Đường Việt Nam, niên vụ 2018/2019, các nhà máy đường đã ép khoảng 12 triệu tấn mía, sản xuất xấp xỉ 1,2 triệu tấn đường, giảm 20% về sản lượng so với niên vụ 2017/2018.

Tuy giá bán đang ở mức thấp nhưng việc tiêu thụ rất chậm và lượng tồn kho tại các nhà máy đường vẫn lớn. Đây là năm thứ 2 liên tiếp ngành mía đường kết thúc vụ với tồn kho ở mức cao,.

Để chuẩn bị cho niên vụ mía đường 2019/2020, Hiệp hội Mía đường Việt Nam đã tính tới việc phải xây dựng giá mía bảo đảm thu nhập cho người nông dân để nông dân an tâm sản xuất, nhờ đó, nhà máy mới có nguyên liệu để duy trì hoạt động.

Tuy nhiên, việc xây dựng giá mía cho niên vụ 2019/2020 đến thời điểm này hầu như không thể thực hiện được vì giá đường hiện đang quá thấp mà vẫn rất khó tiêu thụ. Đây là một nghịch lý khi sản lượng đường vẫn đang thấp hơn so với nhu cầu. 

Vì sao giá đường trong nước quá thấp? Theo Hiệp hội Mía Đường Việt Nam, nguyên nhân trước hết là do thị trường trong nước đang bị tràn ngập bởi đường nhập lậu và gian lận thương mại đường nhập lậu. Về bản chất, đây là loại đường xuất khẩu giá rẻ từ hệ thống gian lận thương mại đường quốc tế của Thái Lan mà không quốc gia sản xuất đường nào trên thế giới có thể cạnh tranh được.

Hiện tại, nhu cầu tiêu thụ đường trong nước vào khoảng 1,6 triệu tấn/năm, trong đó, như đã nói ở trên, sản lượng nội địa khoảng 1,2 triệu tấn. Nhưng ước tính mỗi năm có tới 800 ngàn tấn đường Thái Lan đi qua Campuchia để nhập lậu vào nước ta. Với lượng đường nhập lậu quá lớn như trên, đã khiến cho nguồn cung đường trong nước trở nên dư thừa khá nhiều so với nhu cầu.

Ngoài ra, còn có sự tham gia của loại đường thô nhập khẩu theo loại hình sản xuất xuất khẩu. Nhà nước đã tạo điều kiện thông thoáng về mặt thủ tục hải quan đối với loại hình sản xuất xuất khẩu, bao gồm quy định miễn thuế đối với nguyên liệu, vật tư nhập sản xuất xuất khẩu thay vì ân hạn thuế 275 ngày như trước đây ...

Với những ưu ái như thế, đã có sự bùng nổ về số lượng đường thô nhập khẩu theo loại hình sản xuất xuất khẩu trong những năm gần đây. Giá đường thô nhập khẩu trên thị trường quốc tế hiện nay cũng rất thấp, thấp hơn giá thành sản xuất của tất cả các quốc gia. Điều đáng nói là có thể đã có hiện tượng chuyển đường sản xuất xuất khẩu vào tiêu thụ nội địa, qua đó, làm dư thừa thêm nguồn cung trong nước.

Theo Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban Chỉ đạo 389 quốc gia), đường lậu từ Thái Lan đã gây tổn thất cho ngành mía đường Việt Nam trong thời gian dài và nghiêm trọng. Hơn 2 năm qua, việc gian lận thương mại, buôn lậu quy mô lớn đã khiến cho 1/3 nhà máy đường Việt Nam phải đóng cửa, nhiều cánh đồng mía bỏ hoang vì thua lỗ.

Tổng diện tích mía hiện đã giảm 30-60% so với những năm trước đây. Chi phí đầu tư 1.000 m² mía hết 7 triệu đồng, nhưng nông dân chỉ thu về 3-4 triệu đồng. Do đó, nhiều nông dân bị thua lỗ nặng, phải nợ ngân hàng, nhiều người bỏ ruộng vì càng đầu tư càng lỗ hoặc phải chuyển sang cây trồng, vật nuôi khác. Việc thiếu mía nguyên liệu buộc các nhà máy phải duy trì sản xuất ở công suất thấp. Đã có 17 nhà máy đường thua lỗ, mất vốn chủ sở hữu.

Đường lậu chủ yếu tập trung ở những tỉnh trọng điểm như TP. Hồ Chí Minh, An Giang, Long An, Tây Ninh, Đồng Tháp, Quảng Trị, Kiên Giang, Bình Phước… Hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép mặt hàng đường cát Thái Lan trên các địa bàn trọng điểm nêu trên diễn biến phức tạp với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi.

Một trong những thủ đoạn mà các đối tượng buôn lậu và gian lận thương mại đường nhập lậu sử dụng phổ biến là thực hiện các hoạt động sản xuất, sang chiết, phối trộn đóng gói, sau công đoạn đóng bao mới, đường nhập lậu sẽ biến thành đường nội địa đem đi tiêu thụ; tham gia đấu giá đường (đưa giá rất cao mà không ai có thể cạnh tranh được) từ những đợt thanh lý hàng buôn lậu, sau đó sử dụng hồ sơ đó quay vòng cả năm cho các lô đường nhập lậu khác; đưa bao bì in trong nước sang đóng gói ở nước ngoài (thường là Campuchia), như vậy, đường nhập lậu sẽ có nhãn mác Việt Nam, và nếu không bắt được quả tang trên biên giới, một khi đã đưa vào kho rồi thì rất khó chứng minh có phải đường nhập lậu hay không. (Nguồn: Ban Chỉ đạo 389 quốc gia)

Để nâng cao hiệu quả phòng chống đường nhập lậu, Ban Chỉ đạo 389 quốc gia đề xuất đưa yêu cầu truy xuất nguồn gốc mặt hàng đường thành yêu cầu bắt buộc đối với mọi cơ sở sản xuất, chế biến đường.

Hệ thống truy xuất cần kết hợp với công nghệ như sử dụng mã QR code nhằm giúp các cơ quan chức năng kiểm tra được tính hợp pháp và xuất xứ hàng hóa một cách nhanh chóng, đối phó hữu hiệu hơn vấn nạn đường nhập lậu và gian lận thương mại đường nhập lậu.

Bên cạnh đó là các giải pháp như đề xuất sửa đổi bổ sung Luật Đầu tư, đưa các hoạt động sản xuất, sang chiết, phối trộn đóng gói đường vào danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với mặt hàng đường, Hồ sơ truy xuất phải có hợp đồng nhượng quyền sản xuất, sang chiết, phối trộn, đóng gói với một đơn vị thành viên của Hiệp hội Mía Đường Việt Nam; đề xuất điều chỉnh quy định thanh lý đường nhập lậu theo hướng chỉ cho các đơn vị có giấy phép (thuộc loại hình kinh doanh có điều kiện) tham gia đấu giá …

Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam

 

 

Bò Brazil sắp 'đại chiến' bò Úc tại Việt Nam  (05/11/2019)

Việt Nam là thị trường nhập khẩu bò Úc lớn thứ hai trên thế giới, với lượng nhập khẩu tăng 244.418 con (khoảng 39%) kể từ tháng 9 năm ngoái.

Lượng nhập khẩu bò Úc của  Việt Nam đã tăng gần như từ con số 0 trong năm 2012 (khoảng 3.353 con) lên 362.248 con vào năm 2015. Tuy nhiên, con số này đã giảm trở lại quanh ngưỡng trung bình 200.000 con/ năm kể từ năm đó. Nguyên nhân chủ yếu đến từ sự nhạy cảm của thị trường Việt về giá thịt bò nhập khẩu từ Australia.

Tình trạng thiếu hụt nguồn cung thịt bò, cùng với dịch bệnh tả lợn châu Phi đã dẫn đến giá các loại thịt có xu hướng tăng. Điều này góp phần làm tăng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Úc trong năm nay.

Với Brazil, tình hình dịch bệnh lở mồm long móm đang cản trở việc xuất khẩu sang thị trường Indonesia, nơi có khối lượng đàn bò từ 10 đến 12 triệu con. Trong khi đó, Việt Nam đã có kinh nghiệm đối phó với dịch bệnh này nên khả năng chuyển hướng sang Việt Nam sẽ khả thi hơn.

Brazil có khoảng cách và chi phí vận chuyển sang Việt Nam cao hơn nhiều so với Úc, ngoài ra còn phải chịu khoản thuế nhập khẩu 5% đối với thịt bò. Tuy nhiên, giá thịt bò lại rẻ hơn Úc do sự sụt giảm đáng kể của đồng nội tệ Brazil.

Một điểm đáng lưu ý nữa là quy trình giết mổ bò theo tiêu chuẩn Úc khá nghiêm ngặt, đặc biệt chú trọng tới việc giảm sự đau đớn cho con vật. Các nhà xuất khẩu từ phía Brazil không bị phát sinh các chi phí duy trì các tiêu chuẩn cao về quyền lợi động vật (animal welfare) như ở Úc.

Có khả năng các nhà xuất khẩu Brazil sẽ chọn chiến lược cạnh tranh bằng giá khi thâm nhập vào thị trường Việt Nam. Theo dự báo của Meat and Livestock Australia (MLA), giá thịt bò nhập từ Brazil sẽ có khả năng thấp hơn là nhập từ Úc.

Theo Quản lý mảng dịch vụ chăn nuôi của MLA - Michael Patching, Úc sẽ phải dựa vào điểm khác biệt của họ trên thị trường, đó chính là chất lượng và nguồn cung ổn định.

Các nhà xuất khẩu Úc đã đầu tư vào công tác đào tạo và cải tạo hạ tầng để hỗ trợ các chủ lò mổ tăng năng suất. Nhiều lò mổ 5 năm trước chỉ có năng suất từ 5 – 6 con/1 đêm thì nay đã tăng lên đến 50 con/đêm, có nơi còn lên đến 200 con/đêm.

Ông Michael Patching cũng nhận định: "Tại Việt Nam, việc xây dựng nguồn cung ổn định là điều rất quan trọng ở cả hai giác độ là an ninh lương thực và quyền động vật. Bởi giảm số lượng cơ sở giết mổ sẽ khiến việc quản lý dễ dàng hơn. Đứng ở góc độ kinh tế, điều này cũng đem lại lợi nhuận tốt hơn nhờ có tính hiệu quả tập trung".

Sự đầu tư từ các nhà xuất khẩu nói riêng và ngành chăn nuôi Úc nói chung vừa đem lại sự cải thiện về hiệu suất, năng suất, nguồn cung ổn định, vừa đem lại sự tín nhiệm cho quốc gia này trong chuỗi cung ứng tại Việt Nam.

Nhà xuất khẩu Justin Slaughter từ Austrex, một trong những tổ chức xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi lớn nhất thế giới cho rằng mặc dù có lợi thế hơn các nhà xuất khẩu Úc ở các khoản chi phí phát sinh về quyền lợi động vật, nhưng khoảng cách địa lý và chi phí vận chuyển sẽ là thách thức đáng kể tới khả năng xuất khẩu của Brazil.

Ngoài ra, theo đánh giá của ông Patching, ngành xuất khẩu các loại bò nuôi để lấy thịt (feeder) cũng đang có nhiều tiềm năng trong tương lai.

MLA cùng với Công ty Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi Úc (LiveCorp) hiện đang nghiên cứu chuỗi cung ứng tại Việt Nam để hiểu các mô hình kinh doanh được tổ chức ở đây. Từ đó họ mới định hướng chiến lược phát triển dựa trên sự thúc đẩy hiệu suất có chọn lọc ở một số cơ sở chính.

Tăng hiệu suất cũng như có một nguồn cung ổn định giúp tạo một nền tảng vững chắc hỗ trợ các đàn bò đến từ Australia cạnh tranh với các nguồn từ địa phương hay bò Brazil.

Ông Patching cho biết ngoài những thách thức lớn, phát triển thị trường bò nuôi lấy thịt tại Việt Nam cũng là cơ hội rất giàu tiềm năng. "Nếu việc tổ chức chăn nuôi và sản xuất tại Việt Nam thuận lợi, chúng tôi sẽ không còn phải lo lắng về vấn đề cạnh tranh với bò Brazil nữa".

Nguồn: Trí Thức Trẻ

 

 

Nông dân Ba Tri trúng vụ hành tím  (04/11/2019)

Nông dân trồng rau màu ở xã Tân Thủy, huyện Ba Tri thu hoạch vụ hành tím trúng mùa, được giá.

Tân Thủy là một trong những xã chuyên trồng rau màu của huyện Ba Tri có diện tích nhiều nhất, với trên 80ha, trong đó có 10ha trồng hành tím.

Giống hành trồng chủ yếu được mua từ huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, với giá từ 40 - 50 ngàn đồng/kg, giảm 10 ngàn đồng so với năm trước.

Bình quân mỗi công đất trồng hành thu hoạch được 1,1 tấn, giá bán từ 24 - 40 ngàn đồng/kg, cao hơn 10 ngàn đồng so với năm 2018. Hầu hết các hộ trồng hành đều có lãi. Riêng các thành viên trong tổ sản xuất rau an toàn có lãi cao hơn.

Để hành trồng đạt năng suất cao, Hội Nông dân xã đã chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho nông dân.

Phó chủ tịch Hội Nông dân xã Tân Thủy Đặng Văn Nhiều cho biết: “Ngay từ đầu năm, Hội đã phối hợp với UBND xã, Trạm Khuyến nông, khuyến ngư huyện tổ chức nhiều lớp tập huấn kỹ thuật trồng rau màu, đặc biệt là hành tím cho nông dân để áp dụng vào sản xuất nhằm mang lại hiệu quả cao. Bên cạnh đó, Hội khuyến cáo bà con nên chủ động xuống giống hành sớm, tránh trùng thời điểm sản xuất của các tỉnh khác để thu hoạch bán được giá. Hội cũng đã giới thiệu cơ sở cung cấp giống hành đảm bảo chất lượng cho nông dân, phối hợp với thương lái tiêu thụ sản phẩm, tránh bị ép giá”.

Nguồn: Báo Đồng Khởi