CỔNG THÔNG TIN SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG
nông nghiệp an giang
Điểm tin thị trường

Tin thị trường ngày 11/01/2019

09:00 11/01/2019

Việt Nam công bố 13 sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia - Giá gạo xuất khẩu Việt Nam, Thái Lan dự kiến giảm trong thời gian tới vì nguồn cung tăng - Ngành trồng trọt hướng đến mục tiêu 21 tỷ USD - Tất bật làng hoa kiểng vào vụ tết - Bộ NNPTNT muốn tập trung xuất khẩu gạo thơm, gạo nếp - Một năm ngọt ngào của thị trường ca cao.

 

Việt Nam công bố 13 sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia  (11-01-2019)

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT) vừa ban hành Thông tư về Danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia của Việt Nam với 13 mặt hàng nông sản.

 

Theo danh mục ban hành, 13 sản phẩm nông sản chủ lực quốc gia gồm các sản phẩm sau: 1- Lúa gạo; 2- Cà phê; 3- Cao su; 4- Điều; 5- Hồ tiêu; 6- Chè; 7- Rau, quả; 8- Sắn và sản phẩm từ sắn; 9- Thịt heo; 10- Thịt và trứng gia cầm; 11- Cá tra; 12- Tôm; 13- Gỗ và sản phẩm từ gỗ.

 

Theo Bộ NNPTNT, trên thế giới, đã có nhiều quốc gia xác định sản phẩm nông sản chủ lực để khuyến khích phát triển. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có bộ chỉ số thống nhất nào để xác định sản phẩm nông nghiệp chủ lực giữa các quốc gia trên thế giới.

 

Thay vào đó, tùy theo từng điều kiện về tự nhiên, kinh tế, xã hội cũng như mục tiêu về chính trị, an sinh xã hội của mỗi quốc gia mà các nước này lựa chọn sản phẩm nông sản chủ lực để tập trung phát triển.

 

Qua tổng quan kinh nghiệm quốc tế về xác định và phát triển sản phẩm chủ lực, có bốn nhóm tiêu chí chính mà hầu hết các nước đều sử dụng để xác định sản phẩm nông nghiệp chủ lực của mình, bao gồm: 1- Nhóm tiêu chí về kinh tế; 2- Nhóm tiêu chí về xã hội; 3- Nhóm tiêu chí về môi trường; 4- Nhóm tiêu chí về sản phẩm ưu tiên phát triển.

Nguồn: Báo Lao động

 

 

Giá gạo xuất khẩu Việt Nam, Thái Lan dự kiến giảm trong thời gian tới vì nguồn cung tăng   (11/01/2019)

Giá xuất khẩu gạo tại Ấn Độ đã tăng trong tuần này vì giá tại địa phương đi lên, trong khi giá gạo xuất khẩu của Thái Lan và Việt Nam dự kiến ​​sẽ giảm trong những tuần tới khi nguồn cung tươi mới được đưa ra thị trường.

 

Giá gạo xuất khẩu Ấn Độ tăng trở lại

 

Theo Reuters, giá gạo 5% của Ấn Độ ghi nhận trong khoảng 382 - 387 USD/tấn trong tuần này, tăng so với mức 376 - 383 USD của tuần trước.

 

"Trong vài tuần qua, nhu cầu rất yếu vì gạo Ấn Độ đã đắt hơn", ông M. Adishankar, Giám đốc điều hành tại Sri Lalitha, một công ty xuất khẩu gạo ở phía nam bang Andhra Pradesh, cho biết.

 

Giá gạo xuất khẩu ở Ấn Độ đã tăng mạnh trước đó sau khi Chhattisgarh, một bang sản xuất gạo hàng đầu ở miền trung Ấn Độ, tăng giá mua thóc tối thiểu.

 

Xuất khẩu Thái Lan và Việt Nam duy trì ảm đạm

 

Tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm giảm còn khoảng 390 - 400 USD/tấn (FOB) từ mức 380 - 400 USD của tuần trước vì đồng baht mạnh hơn so với USD.

 

Các thương nhân cho biết giá gạo xuất khẩu vẫn không thay đổi do nhu cầu ở mức thấp, trong khi dự kiến ​​nguồn cung sẽ tăng vào khoảng cuối tháng 1 - đầu tháng 2. Điều này có thể ảnh hưởng đến giá xuất khẩu.

 

Thị trường đang chờ đợi khả năng thu mua gạo từ Philippines. Quốc gia này đã nhập khẩu từ Thái Lan vào năm ngoái, một thương nhân ở Bangkok cho hay.

 

Trong khi đó, giá gạo 5% tấm xuất khẩu của Việt Nam 5% duy trì ở mức 370 - 375 USD/tấn, không thay đổi so với tuần trước và các thương nhân dự đoán giá sẽ giảm trong những tuần tới vì nguồn cung tăng và nhu cầu yếu.

 

"Một số nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long đã bắt đầu thu hoạch vụ đông xuân và vụ thu hoạch dự kiến ​​lên cao nhất sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán", một thương nhân tại TP HCM nói.

 

Xuất khẩu gạo từ Việt Nam dự kiến ​​sẽ ghi nhận ​​một năm ảm đạm trong 2019, ông Nguyễn Ngọc Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam, trả lời phỏng vấn của Reuters hôm thứ Năm (10/1).

 

"Chúng tôi vẫn chưa nhận được đơn đặt hàng mới nào trong năm nay và các khách hàng tiềm năng không có bất kỳ động thái nào trong việc mua hàng mới", ông Nam cho biết.

 

Động thái thắt chặt kiểm soát gạo nhập khẩu từ Việt Nam của Trung Quốc sẽ kìm hãm xuất khẩu gạo Việt Nam, theo một thương nhân có trụ sở tại TP HCM nhận định.

 

"Một số nhà xuất khẩu đang tìm cách đổi gạo lấy hạt điều từ châu Phi, nhưng vẫn chưa rõ giá sẽ như thế nào", thương nhân này cho biết.

 

Ngoài ra, một báo cáo từ Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) ước tính sản lượng gạo của Bangladesh sẽ đạt mức kỉ lục 53,6 triệu tấn trong năm 2018, nhờ giá nội địa tăng mạnh và sản lượng bội thu vì điều kiện thời tiết thuận lợi.

 

Bangladesh, nổi lên là một nhà nhập khẩu gạo lớn vào năm 2017 sau khi lũ lụt làm thiệt hại mùa màng, đã nhập khẩu kỉ lục 3,9 triệu tấn gạo trong năm tài chính vừa qua, kết thúc vào tháng 6/2018.

Nguồn: Báo Kinh tế & Tiêu dùng

 

 

Ngành trồng trọt hướng đến mục tiêu 21 tỷ USD   (11/01/2019)

(Dân Việt) Năm 2019 ngành trồng trọt đặt mục tiêu tăng giá trị sản xuất lên 1,78%, nâng cao giá trị gia tăng trên diện tích canh tác nhằm đưa giá trị xuất khẩu nông sản cán mốc 21 tỷ USD.

   

Sản xuất trồng trọt chuyển dịch mạnh

 

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, năm 2018, giá trị sản xuất trồng trọt ước đạt 482.000 tỷ đồng, tăng  khoảng 2,52%, sản lượng lương thực có hạt đạt 48,8 triệu tấn, tăng 2,1%, giá trị xuất khẩu nông sản ước đạt 19,5 tỷ USD, tăng 3% so với năm 2017.

 

Theo đánh giá của Cục Trồng trọt (Bộ NNPTNT), sự thuận lợi của thời tiết là một trong những yếu tố quan trọng cho những vụ mùa bội thu. Thời tiết những tháng đầu năm 2018 tương đối thuận lợi cho trồng trọt, miền Bắc mùa đông 2017 - 2018 khô hanh, thuận lợi cho nhãn, vải và một số cây ăn quả ra hoa, đậu quả, cho sản lượng cao. Miền Nam mùa mưa đến sớm, nguồn nước tương đối đầy đủ cho sản xuất lúa và cây trồng ngắn ngày trong vụ đông xuân nên năng suất, sản lượng cây trồng tăng cao. Các cây công nghiệp, cây ăn quả sinh trưởng, phát triển thuận lợi, đặc biệt là điều, cà phê, chè, cao su, vải, nhãn, cam, xoài...

 

Cùng với điều kiện thời tiết thuận lợi, năm 2018 lĩnh vực chế biến cũng đã có bước phát triển, một số nhà máy chế biến khánh thành, đi vào hoạt động. Xuất khẩu một số nông sản chính như gạo, rau quả và cà phê tăng trưởng tốt, giá thu mua các loại trái cây trong nước ổn định...

 

Đánh giá về kết quả sản xuất năm 2018, ông Nguyễn Như Cường - Cục trưởng Cục Trồng trọt cho biết, sản xuất trồng trọt đã có sự chuyển dịch mạnh, giảm diện tích một số cây trồng hàng năm hiệu quả thấp (lúa giảm 138.000ha, ngô giảm khoảng 60.000ha…) tăng diện tích một số cây trồng có thế mạnh như cây ăn quả tăng 48.000ha, rau tăng 23.000ha.

 

Đối với cây lúa, mặc dù diện tích giảm 138.000ha, tuy nhiên năng suất và sản lượng đều tăng, cụ thể, năng suất trung bình ước đạt 58,1 tạ/ha, tăng 2,6 tạ, sản lượng đạt 43,98 triệu tấn, tăng khoảng 1,22 triệu tấn so với năm 2017.

 

Năm 2018 xuất khẩu gạo ước đạt 3,03 tỷ USD, tăng 16,1% về giá trị và tăng 4,5% về lượng so với năm 2017, tỷ trọng gạo chất lượng cao xuất khẩu đạt khoảng 80%.

 

Cây ăn quả là nhóm cây trồng được hưởng lợi nhiều từ việc chuyển dịch sản xuất, tổng diện tích cây ăn quả cả nước đạt 969.400ha, tăng 48.000ha so với năm 2017. Diện tích tăng chủ yếu tập trung ở nhóm cây có múi (cam, quýt, bưởi), xoài, thanh long, nhãn…

 

Tăng giá trị sản xuất

 

Để đạt được giá trị xuất khẩu nông sản 21 tỷ USD, ngành trồng trọt đặt mục tiêu tăng giá trị sản xuất trồng trọt  khoảng 1,78%, nâng cao giá trị gia tăng trên diện tích canh tác, tăng thu nhập cho nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu.

 

Ông Nguyễn Như Cường cho biết, nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2019 là tiếp tục triển khai thực hiện kế hoạch tái cơ cấu lĩnh vực trồng trọt; kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa kém hiệu quả. Tổ chức lại sản xuất của các hộ nông dân theo hướng quy mô lớn, tập trung và có sự liên kết giữa nông dân với nông dân, giữa các tổ chức nông dân với doanh nghiệp, tạo thành chuỗi ngành hàng. Tổng kết các mô hình sản xuất có hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là mô hình tổ chức sản xuất mới, tổ chức khuyến cáo nhân rộng cho các địa phương khác.

 

Để đẩy mạnh sản xuất, một trong những nhiệm vụ của ngành trồng trọt là đẩy mạnh nghiên cứu, chọn tạo và đưa vào sản xuất các giống cây trồng có chất lượng cao, chống chịu tốt với sâu bệnh, điều kiện bất thường của môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và đáp ứng với yêu cầu đa dạng hóa thị trường. Đẩy mạnh cơ giới hóa trong sản xuất, thu hoạch và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất như tưới, bón phân tự động, nhà kính, nhà lưới. Áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm và sản xuất bền vững.

Nguồn: Dân Việt

 

 

Tất bật làng hoa kiểng vào vụ tết  (10/01/2019)

Những ngày đầu tháng Chạp, các thành viên Tổ hợp tác hoa kiểng xã Mỹ Phong thuộc làng hoa Mỹ Phong (TP. Mỹ Tho, Tiền Giang) đang tất bật chuẩn bị vụ tết.

 

Không khí lao động rất khẩn trương. Người chăm chút tỉa đọt, tưới nước, người bón phân, xịt thuốc, xử lý... với mong muốn cây sẽ cho hoa vào đúng dịp bán được giá.

 

Những vườn, ruộng hoa đang ngập tràn một màu xanh của nhiều loại hoa như cúc vạn thọ, cúc mâm xôi, cúc Hà Lan cùng nhiều loại hoa khác. Ông Nguyễn Văn Nhung, Tổ trưởng Tổ hợp tác Hoa kiểng xã Mỹ Phong cho biết, Tổ hợp tác hiện có 175 tổ viên, diện tích trồng hoa khoảng 30ha, tập trung nhiều nhất ở 2 ấp Hội Gia và Mỹ Hòa. Năm nay, Tổ hợp tác có kế hoạch sản xuất 850 ngàn giỏ hoa với 11 loại gồm cát tường, sống đời, vạn thọ, hướng dương, bông giấy cùng một số loại cúc như mâm xôi, vàng hòe, Indo, đồng tiền… trong đó, nhiều nhất là cúc Hà Lan (300 ngàn giỏ), kế đến là cát tường, vàng hòe (100 ngàn giỏ), vạn thọ (90 ngàn giỏ), cúc mâm xôi (40 ngàn giỏ)… Năm nay, gia đình ông Nhung canh tác khoảng 10 ngàn giỏ hoa các loại.

 

Để chuẩn bị cho vụ hoa tết, từ đầu năm, ông đã đặt hàng Viện Cây ăn quả miền Nam cấy mô 3 loại giống cúc mâm xôi, Hà Lan và vàng hòe, sau đó nhân giống (cắt thân, giâm trong nhà lưới) để đến tháng 6 âm lịch kịp giao cho các tổ viên. Đối với hoa cát tường và cúc đồng tiền, ông mua cấy giống từ Đà Lạt; riêng vạn thọ (vàng, cam), ông chỉ sử dụng hạt giống nhập khẩu từ Thái Lan (cho bông to và sắc màu rực rỡ).

 

Về kỹ thuật canh tác, theo ông Nhung, khi gieo hạt hoặc ươm giống phải đặt trong nhà lưới để giảm thiệt hại do thời tiết nắng nóng hay mưa nhiều. Khi cây ra rễ nhiều thì đưa ra ngoài và tiến hành trồng vào chậu (giỏ). Thời gian canh tác hoa từ lúc vô chậu đến lúc ra hoa từ 3-6 tháng tùy loại.

 

Khi thời tiết nắng, mỗi ngày tưới một lần; về phân bón, khoảng 4-5 ngày tưới một lần; khi cây hoa trưởng thành, định kỳ 15-20 ngày tỉa ngọn một lần (chu kỳ tỉa từ 1-3 lần tùy loại hoa) để cây ra nhiều chồi và cho nhiều nụ hoa. Tùy theo thể trạng trạng cây mà cân đối giữa đạm, lân, kali; đồng thời, thường xuyên theo dõi để phun thuốc trừ sâu ăn lá, ăn thân.

 

Vụ tết Mậu Tuất 2018, Tổ hợp tác trồng hoa kiểng xã Mỹ Phong cung cấp khoảng 800 ngàn giỏ hoa các loại cho thị trường trong tỉnh và một số tỉnh thành khác với mức giá rất khả quan; trong đó, cúc mâm xôi 60-70 ngàn đồng/giỏ; cúc Hà Lan 50-55 ngàn đồng/giỏ; vạn thọ, cát tường, mào gà... đồng giá 40 ngàn đồng/giỏ.

 

Ông Nhung hy vọng năm nay giá hoa sẽ cao hơn mặt bằng giá năm rồi do giá thành sản xuất nhìn chung đều tăng.

 

Với gần 30 năm gắn bó với nghề trồng hoa, ông Nhung có nhiều kinh nghiệm trong việc xử lý (sử dụng phân, thuốc hóa học) để cây cho hoa đúng vào dịp tết.

Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam

 

 

Bộ NNPTNT muốn tập trung xuất khẩu gạo thơm, gạo nếp   (10-01-2019)

Với kế hoạch xuất khẩu 6,5 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch khoảng 3 tỉ USD, Bộ NNPTNT đặt mục tiêu nâng cao chất lượng, giảm dần số lượng, phấn đấu xuất khẩu gạo thơm, gạo nếp sang các thị trường tiềm năng.

 

Theo ông Trần Xuân Định - Phó Cục trưởng Trồng trọt (Bộ NNPTNT), 2018 là năm bội thu về mùa và giá gạo. Xuất khẩu gạo năm  2018 ước đạt 3,03 tỉ USD, tăng 16,1% về giá trị so với năm 2017.

 

Giá gạo xuất khẩu năm 2018 cũng tăng mạnh, từ 452USD/tấn (năm 2017) lên 502 USD/tấn trong năm 2018, trong đó tỉ trọng gạo chất lượng cao chiếm tới 80%.

 

Đặc biệt, giống gạo thơm dẻo Japonica đang được thị trường thế giới ưa chuộng. Đây là giống gạo xuất xứ từ Nhật, thích hợp với điều kiện khí hậu ở Việt Nam nên cho thu hoạch tốt, được người dân trồng ở vụ Đông Xuân có điều kiện khí hậu thích hợp.

 

 

Với kết quả tích cực của năm 2018, ngành Công Thương các tỉnh ĐBSCL đang kỳ vọng xuất gạo năm 2019 sẽ đạt kết quả cao hơn. Hiện tại, tỉnh Long An dự kiến sẽ đạt kim ngạch 5,9 tỉ USD (tăng khoảng 15,7% so với 2018), TP.Cần Thơ đặt mục tiêu khoảng 2,2 tỉ USD (tăng gần 6,3% so với 2018), tỉnh An Giang cũng dự kiến sẽ đạt trên 900 triệu USD trong 2019.

 

Bắt đầu năm 2019, đơn hàng từ các doanh nghiệp khu vực ĐBSCL đã tăng, tập trung vào các sản phẩm gạo chất lượng cao. Để giữ vững thị trường, theo ông Trần Xuân Định, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo cần đầu tư công nghệ, đẩy mạnh chất lượng chế biến, chú trọng các khâu từ tách màu, đánh bóng…. để tăng giá trị gạo xuất khẩu, đặc biệt là gạo Japonica sẽ tăng giá trị tốt hơn.

 

Xác định được mục tiêu nâng cao giá trị gạo, năm 2019, ngành lúa gạo tiếp tục tập trung đi theo hướng sản xuất bền vững, tăng sản xuất các giống lúa chất lượng để nâng cao chất lượng, giá trị tại thị trường trong nước và xuất khẩu, trong đó lưu ý về vấn đề an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.

 

Theo Bộ NNPTNT, ngành lúa gạo phải đầu tư các cánh đồng mẫu lớn để tránh gạo bị pha tạp, chế biến và xuất khẩu theo chuỗi, giữ ổn định các thị trường đã có và mở rộng thêm thị trường chính ngạch, bởi chỉ xuất khẩu chính ngạch mới bền vững và mang về giá trị lớn cho nông sản Việt.

Nguồn: Báo Lao động

 

 

Một năm ngọt ngào của thị trường ca cao  (10/01/2019)

Nhìn lại một năm đầy biến động với phần lớn các loại tài sản chìm vào màu đỏ, cổ phiếu kỳ hạn của ca cao lại là thứ ngọt ngào.

 

Trên thực tế nhìn lại các thị trường cổ phiếu kỳ hạn quan trọng, ca cao đã tăng lên 28% trong năm nay. Trong khi thị trường chứng khoán và các loại tài sản khác bị tả tơi, do các lo sợ về sự tăng trưởng toàn cầu chậm lại và các cuộc thương chiến, giá ca cao tăng vọt vì thiếu cung do thời tiết khô hạn ở những khu vực sản xuất hàng đầu như Bờ Biển Ngà.

 

“Vụ thu hoạch chính đang tiếp diễn ở Tây Phi. Thời tiết nóng và khô. Ý đồ sản xuất vụ chính ở Bờ Biển Ngà và Ghana giảm; Bờ Biển Ngà hiện nay ước tính sản xuất chính vụ hơn 2 triệu tấn”, Jack Scoville, phân tích gia của Chicago’s Price Futures Group, có một ghi chép hôm 4/1.

 

“Thời tiết có vẻ thuận lợi ở Đông Phi và châu Á. Nhu cầu đang cải thiện và vụ mùa mới bắt đầu tăng”, Scoville nói thêm.

 

Dự báo xa hơn của BBC, giá trị thị trường sô cô la toàn cầu có khả năng tăng gấp đôi năm 2025 so với 2015. Việc tiêu thụ nhiều chủ yếu do lợi ích sức khoẻ. Vùng nghiện sô cô la lớn nhất nằm ở Tây Âu và Bắc Mỹ, nghiện nặng nhất là Thuỵ Sĩ, bình quân tiêu thụ 8kg/đầu người năm 2017. Nhưng triển vọng lại nằm ở những thị trường đông dân và đô thị hoá nhanh. Ấn Độ là một trong những thị trường sô cô la phát triển nhanh nhất. Năm 2016, dân Ấn tiêu thụ 228.000 tấn, tăng 50% so với năm 2011.

 

Tuy nhiên, các nhà sản xuất sô cô la đang gặp khó khăn. Cây ca cao cung cấp nguyên liệu làm sô cô la cần khí hậu nhiệt đới ẩm ướt và bóng mát của rừng nhiệt đới, khiến cho diện tích trồng bị hạn chế. Bờ Biển Ngà và Ghana đóng góp hơn 50% sản lượng trên toàn thế giới. Nhưng do toàn cầu đang nóng dần lên, việc canh tác ca cao ở những nơi đó phải di chuyển lên cao hơn để tiếp tục phát triển tối ưu.

 

Kẻ thù của cây ca cao có đủ loại và đủ cỡ; hai kẻ thù là bệnh và dịch. Các ước tính cho thấy bệnh hại gây ra tổn thất hàng năm từ 30 – 40% tổng sản lượng ca cao toàn cầu. Tháng 6 năm rồi, Bờ Biển Ngà phải phá bỏ toàn bộ diện tích trồng ca cao 100.000ha bị nhiễm virus gây rộp chồi cây, để ngăn chặn bệnh lan rộng hơn nữa. Sẽ mất ít nhất năm năm trước khi khu vực này có thể tái canh.

 

Indonesia, nước sản xuất ca cao lớn thứ 3 thế giới, đã giảm sản lượng ca cao từ năm 2010 do thời tiết xấu và cây bị lão hoá. Do đó, một số nông dân chuyển sản xuất sang các loại cây trồng như bắp, cao su hoặc cọ lấy dầu. Ghana, nhà cung cấp ca cao lớn thứ 2 trên thế giới, trông chờ ở châu Á và đặc biệt là Trung Quốc. Để thúc đẩy sản xuất ca cao, nước này đang cố tìm một khoản vay 1,5 tỷ USD từ Eximbank của Trung Quốc.

 

Nhiều tuyên bố cho rằng năm 2050 là ngày tận thế của sô cô la. Tuyên bố có thể thái quá, nếu các bên liên quan trong ngành sản xuất này hợp tác chặt chẽ với nhau.Nhà sản xuất nhỏ lẻ hợp tác với nhau để không bị ép giá. Chuyện sô cô la có thể cứu vãn hay không còn phải “đợi đấy!”.

Nguồn: Thế giới Tiếp thị