CỔNG THÔNG TIN SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG
nông nghiệp an giang
Điểm tin thị trường

Tin thị trường ngày 01/02/2019

09:00 01/02/2019

Dịp Tết Nguyên đán giá heo hơi tăng mạnh - Giá cà phê phục hồi 500 đồng/kg, giá tiêu tiếp tục đi ngang - Thị trường xuất khẩu gạo châu Á ảm đạm trước Tết - Hiện tuợng lạ: Trái cây chưng Tết giảm sản lượng, giảm luôn giá - Thủy sản Việt Nam năm 2019: Cần vượt qua nhiều thách thức.

 

Dịp Tết Nguyên đán giá heo hơi tăng mạnh  (01/02/2019)

Gần Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019 giá heo hơi tăng trở lại ở nhiều địa phương trong cả nước.

 

Giá heo hơi hôm nay 1/2, ghi nhận tại miền Bắc giá heo hơi tăng trở lại, tại Lào Cai, Hà Nội ghi nhận tăng thêm 1.000 đồng/kg lên lần lượt 49.000 và 50.000 đồng/kg. Trong khi tại Bắc Giang, giá heo giảm 1.000 đồng xuống 48.000 đồng/kg.

 

Trong khi Yên Bái tăng lên 47.000 đồng/kg. Bắc Giang hôm qua được thu mua khoảng 48.000 đồng/kg thì nay tăng lên 49.000 đồng/kg.

 

Tuy nhiên hiện miền Bắc một số nơi giá heo chững lại, tại Hưng Yên giá heo hơi giảm 1 giá xuống 48.000 đồng/kg; Vĩnh Phúc có nơi xuống còn 46.000 đồng; Phú Thọ xuống 48.000 đồng.

 

Cập nhật giá heo hơi hôm nay 1/2 tại miền Trung, Tây Nguyên biến động nhẹ. Quảng Trị, Thừa Thiên Huế là hai địa phương ghi nhận mức tăng này, với giá heo hơi lên 48.000 đồng/kg. Tại Bình Định, giá heo hơi tăng ít hơn, khoảng 1.000 đồng, lên 42.000 đồng/kg.

 

Hiện giá heo hơi ở Bắc Trung Bộ như Thanh Hóa, Nghệ An đang đạt 49.000 - 50.000 đồng/kg; Giá heo tại Bình Định được giao dịch ở mức 41.000 đồng; Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Ninh Thuận ghi nhận trong khoảng 44.000 - 45.000 đồng/kg. Heo hơi tại Bình Thuận có giá cao hơn, được thu mua ở mức 48.000 đồng.

 

Tại khu vực Tây Nguyên, giá heo hơi dao động trong khoảng 47.000 - 50.000 đồng/kg.

 

Cập nhật giá heo hơi tại miền Nam cũng ghi nhận giá heo hơi tăng trở lại. Hiện giá heo tại Tiền Giang tăng tới 2.000 đồng lên 52.000 đồng/kg. Long An, Bến Tre, Trà Vinh, Cần Thơ đồng loạt tăng thêm 1.000 đồng so với ngày hôm qua. Trong đó, giá heo hơi tại Cần Thơ lên 50.000 đồng/kg; Bến Tre đạt 51.000 đồng; còn Tiền Giang, Trà Vinh và Long An lên 52.000 đồng/kg.

 

Tại Đồng Nai, giá heo hơi cũng trở lại ngưỡng 49.000 đồng/kg. Đây cũng là mức giá được nhìn thấy tại Bình Phước, Vĩnh Long, Bình Dương và TP HCM. Giá heo tại Vũng Tàu, Sóc Trăng, Tây Ninh cũng ở mức thấp, đạt 48.000 - 48.500 đồng/kg.

Nguồn: Sức khỏe cộng đồng

 

 

Giá cà phê phục hồi 500 đồng/kg, giá tiêu tiếp tục đi ngang   ( 01/02/2019)

Giá cà phê hôm nay (30/1) ở khu vực Tây Nguyên, dao động trong khoảng 33.200 - 33.900 đồng/kg, giảm 200 đồng/kg, theo dữ liệu từ. Trong đó, giá cà phê cao nhất ở tỉnh Đắk Lắk, thấp nhất tại Lâm Đồng.

 

Giá cà phê hôm nay (30/1) ở khu vực Tây Nguyên, dao động trong khoảng 33.200 - 33.900 đồng/kg, giảm 200 đồng/kg, theo dữ liệu từ giacaphe.com. Trong đó, giá cà phê cao nhất ở tỉnh Đắk Lắk, thấp nhất tại Lâm Đồng.

 

Giá cà phê giao tại cảng TP HCM ở mức 1.466 USD/tấn, tăng 24 USD/tấn.

 

Trên thị trường thế giới, cuối phiên giao dịch hôm 31/1, giá cà phê robusta giao tháng trong tháng 3/2019 trên sàn London tăng 1,3% lên 1.547 USD/tấn. Giá cà phê arabica giao trong tháng 3/2019 tăng 3,8% lên 106 USCent/pound.

 

Theo số liệu thống kê từ Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), nhập khẩu cà phê của Hàn Quốc năm 2018 đạt 158,4 tấn, trị giá 637,28 triệu USD, giảm 0,6% về lượng và giảm 2,8% về trị giá so với năm 2017. Năm 2018, Brazil đã vượt Việt Nam trở thành thị trường cung cấp cà phê lớn nhất cho Hàn Quốc với lượng đạt 30,5 nghìn tấn, trị giá 85,13 triệu USD, tăng 10,4% về lượng, nhưng giảm 1,9% về trị giá so với năm 2017. Trong khi đó, nhập khẩu cà phê của Hàn Quốc từ Việt Nam giảm 13,5% về lượng và giảm 22,6% về trị giá, đưa Việt Nam xuống trở thành thị trường cung cấp cà phê lớn thứ 2. Do đó, thị phần cà phê của Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Hàn Quốc năm 2018 giảm xuống 19%, so với mức 21,9% năm 2017.

 

Giá nhập khẩu bình quân cà phê của Hàn Quốc năm 2018 ở mức 4.024 USD/tấn, giảm 2,2% so năm 2017. Trong đó, giá nhập khẩu bình quân cà phê giảm ở hầu hết các thị trường, Brazil giảm 11,2%, xuống mức 2.792 USD/tấn, Việt Nam giảm 10,5%, xuống mức 1.923 USD/tấn, Colombia giảm 9,4%, xuống mức 3.348 USD/tấn.

 

Giá tiêu hôm nay ở khu vực Tây Nguyên và miền Nam không đổi đổi ở mức 46.000 đồng/kg. Đồng Nai và Gia Lai là hai tỉnh có giá cà phê thấp nhất, chỉ ở mức 45.000 đồng/kg, cao nhất tại Đắk Lắk, Bình Phước và Đắk Nông.

 

Theo Tổ chức Cà phê Quốc tế (IPC), năm 2019, Việt Nam dự kiến sản xuất khoảng 175.000 tấn hạt tiêu đen và 25.000 tấn hạt tiêu trắng, tiếp tục giữ vị thế quốc gia sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, con số này thấp hơn năm ngoái do diện tích tiêu có xu hướng thu hẹp do chịu áp lực giá và dịch bệnh.

 

Năm nay Việt Nam sẽ tập trung nâng cao chất lượng hồ tiêu hơn là sản lượng. Do đó, sẽ tập trung vào việc giảm sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật hóa học tổng hợp và cố gắng phát triển các trang trại trồng tiêu hữu cơ.

 

"Hạt tiêu không chỉ làm gia vị mà còn có thể làm nguyên liệu cho sản xuất sản phẩm nước hoa, các thực phẩm chức năng, các sản phẩm chăm sóc sắc đẹp… Vì vậy doanh nghiệp cần đầu tư các sản phẩm giá trị gia tăng, chế biến sâu để tăng đầu ra, chất lượng, thương hiệu cho hồ tiêu Việt Nam”, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Xuân Cường chia sẻ.

 

Brazil được dự kiến sẽ trở thành quốc gia sản xuất hồ tiêu lớn thứ hai thế giới với sản lượng khoảng 67.000 tấn, bao gồm 64.000 tấn hạt tiêu đen và 3.000 tấn hạt tiêu trắng.

 

Tương tự như Việt Nam, sản lượng của Brazil cũng dự kiến sẽ giảm so với ước tính của năm trước. Ước tính sản lượng sụt giảm vì Brazil có một số vườn tiêu đã già cỗi trong khi những vườn trồng mới chưa cho sản lượng.

 

Trên sàn TOCOM (Nhật Bản), giá cao su giao tháng 3/2019 lúc 10h15 ngày 31/1 (giờ địa phương) giảm 1,2% xuống 179,5 yen/kg. Tại Sở giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM), ngày 23/01/2019 giá cao su tăng lên mức cao nhất 8 tháng, đạt 193,1 Yên/kg (tương đương 1,76 USD/kg), nhưng sau đó giá giảm trở lại, nhưng vẫn ở mức cao so với cuối năm 2018.

 

Chốt phiên giao dịch ngày 28/01/2019, giá cao su giao kỳ hạn tháng 3/2019 giao dịch ở mức 189,6 Yên/kg (tương đương 1,73 USD/kg), tăng 11,3% so với cuối tháng 12/2018. Tại Thượng Hải, chốt phiên giao dịch ngày 28/01/2019, giá cao su kỳ hạn giao tháng 3/2019 giao dịch ở mức 11.565 NDT/tấn (tương đương 1,7 USD/kg), tăng 5,1% so với cuối tháng 12/2018. Tại Thái Lan, chốt phiên giao dịch ngày 28/01/2019, giá cao su RSS3 chào bán ở mức 48,8 Baht/kg (tương đương 1,55 USD/kg), tăng 3,3% so với cuối tháng 12/2018.

 

Giá cao su tăng do nhu cầu tiêu thụ cao su cao hơn so với sản lượng. Theo Hiệp hội các nước sản xuất Cao su tự nhiên (ANRPC), trong 11 tháng năm 2018, nhu cầu tiêu thụ cao su tự nhiên (NR) tăng 5% so với cùng kỳ năm 2017, lên 12,9 triệu tấn, nguồn cung tăng 5,4%, lên 12,816 triệu tấn.

 

Như vậy, thế giới đã bị thiếu hụt 36.000 tấn cao su tự nhiên trong 11 tháng năm 2018; giá dầu tăng; căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc hạ nhiệt.

Nguồn: Kinh tế & Tiêu dùng

 

 

Thị trường xuất khẩu gạo châu Á ảm đạm trước Tết   ( 01/02/2019)

Ấn Độ và Thái Lan - các nhà xuất khẩu gạo hàng đầu châu Á -  đã ghi nhận một tuần ​​hoạt động ảm đạm, trong khi việc chính phủ Bangladesh ngừng dự trữ đã đẩy giá gạo nội địa của quốc gia này đi xuống.

 

Theo Reuters, giá gạo 5% tấm tại Thái Lan không thay đổi so với tuần trước ở mức 390 - 402 USD/tấn (FOB). "Hiện tại, đồng baht mạnh là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến giá, nhưng điều đó đã không giúp chúng tôi bán gạo", một thương nhân có trụ sở tại Bangkok cho biết.

 

Trong khi nhu cầu hầu như không thay đổi, nguồn cung dự kiến ​​sẽ tăng trong tháng tới, theo nguồn tin từ các thương nhân.

 

Năm nay, đồng baht đã tăng gần 3,4% so với USD. "Philippines vẫn là thị trường các nhà xuất khẩu Thái Lan hướng đến, nhưng cho đến nay mọi thứ vẫn yên ắng", một thương nhân khác tại Bangkok nói.

 

Ngoài ra, Hiệp hội xuất khẩu gạo Thái Lan cho hay xuất khẩu gạo của quốc gia này được dự báo giảm 14% trong năm nay vì một đồng tiền tệ mạnh khiến xuất khẩu trở nên đắt đỏ hơn đối với người mua ở nước ngoài.

 

Người trồng lúa Thái Lan cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh gia tăng từ Ấn Độ, nhà xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới và Việt Nam - quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ ba thế giới, ông Chookiat Ophaswongse, Chủ tịch danh dự của Hiệp hội, phát biểu trong một cuộc họp báo.

 

Giá gạo 5% tấm của Ấn Độ cũng không thay đổi trong tuần này, duy trì ở mức 381 - 386 USD/tấn, vì nhu cầu yếu. Giá gạo xuất khẩu tại Ấn Độ đã tăng mạnh sau khi chính quyền bang Chhattisgarh, khu vực sản xuất gạo hàng đầu quốc gia, tăng giá mua thóc tối thiểu. "Người mua từ châu Phi chỉ đang đưa ra các yêu cầu, nhưng hoạt động thương mại không xảy ra", một nhà xuất khẩu có trụ sở tại Kakinada, Andhra Pradesh cho biết.

 

Tại quốc gia láng giềng Bangladesh, giá gạo trong nước đã bắt đầu giảm nhẹ trong tuần này sau khi chính phủ tuyên bố sẽ áp dụng các biện pháp trừng phạt những người dự trữ mặt hàng chủ lực này . "Biện pháp sẽ được thực hiện để đối phó với các thương nhân dự trữ gạo để tạo ra một cuộc khủng hoảng nhân tạo trên thị trường", một quan chức của bộ thương mại Bangladesh cho hay. Người này nói thêm đợt tăng giá gần đây là không đúng vì dự trữ đầy đủ và mùa vụ tốt.

 

Giá gạo nội địa tăng cao đã khiến các thương nhân dự đoán chính phủ sẽ giảm thuế nhập khẩu, vốn đã bị chính phủ đã loại trừ.

 

Giá gạo xuất khẩu tại Việt Nam tăng 10 USD

 

Tại Việt Nam, giá gạo 5% tấm đã tăng từ 340 USD/tấn vào tuần trước lên 350 USD/tấn trong tuần này, nhưng hoạt động thương mại vẫn yên ắng, theo các thương nhân cho biết. "Hầu như không có hoạt động xuất khẩu nào từ Việt Nam trong tuần tới do nghỉ Tết Nguyên đán", một thương nhân có trụ sở tại TP HCM cho biết.

 

Dữ liệu chính thức công bố hôm thứ Ba (29/1) cho thấy xuất khẩu gạo Việt Nam trong tháng 1 có khả năng giảm 18,5% so với một năm trước đó.

Nguồn: Kinh tế và tiêu dùng

 

 

Hiện tuợng lạ: Trái cây chưng Tết giảm sản lượng, giảm luôn giá  (31/01/2019)

(NLĐO)- Sản lượng xoài, bưởi, thanh long, mãng cầu... bán Tết dự kiến giảm do mất mùa nhưng giá bán có khả năng giảm ít nhất 1.000 đồng/kg và cao nhất 17.000 đồng/kg so với Tết 2018

 

Tối 30 – 1 (25 Tết) đoàn công tác của UBND TP HCM do ông Phạm Thành Kiên, Uỷ viên UBND TP HCM, Giám đốc Sở Công Thương dẫn đầu đã khảo sát, thăm và làm việc tại chợ đầu mối Thủ Đức.

 

Báo cáo với đoàn làm việc, ông Nguyễn Nhu, Phó giám đốc Công ty Quản lý và kinh doanh chợ đầu mối nông sản Thủ Đức (gọi tắt là chợ đầu mối Thủ Đức), cho biết lượng hàng hóa về chợ đã tăng mạnh từ đêm 24 và kéo dài đến 28 tháng Chạp. Dự kiến trong những ngày cao điểm của tháng chạp, lượng hàng nhập chợ sẽ tăng dần, cụ thể ngày 24 khoảng 5.000 tấn, ngày 25 khoảng 5.500 tấn, ngày 26 khoảng 6.000 tấn, ngày 27 khoảng 7.000, ngày 28 khoảng 6.700.

 

Lượng hàng nhập chợ trong ngày cao điểm 27 tháng Chạp nhiều khả năng giảm 3,4% so với cùng kỳ năm trước ( năm trước có lúc lên đến 7.247 tấn).

 

Cũng theo ông Nhu, một số loại trái cây chủ lực phục vụ tết Nguyên đán như xoài, mãng cầu, quýt, bưởi, thanh long... năm nay dự kiến sản lượng có khả năng giảm do thời tiết thất thường, mưa bão nhiều ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng trái, đồng thời làm tăng chi phí sản xuất do sâu bệnh gia tăng.

 

Dự kiến các ngày cao điểm tết mặt hàng bưởi có thể đạt 300 tấn/ngày (cao điểm năm trước là 312 tấn/ngày); xoài 350 tấn đến 400 tấn/ngày (cao điểm năm trước là 450 tấn/ngày); quýt từ 500 tấn đến 600 tấn/ngày (cao điểm năm trước là 612 tấn/ngày); mãng cầu từ 500 tấn đến 550 tấn/ngày (cao điểm năm trước là 591 tấn/ngày); thanh long dao động từ 280 tấn đến 300 tấn/ngày (cao điểm năm trước 354 tấn/ngày).

 

Trong khi đó, các mặt hàng rau chủ lực phục vụ tết nguyên đán dự kiến sản lượng nhập chợ tăng vào các ngày cao điểm để đáp ứng cho nhu cầu thị trường, một số mặt hàng rau như bắp cải tròn dự kiến 400 tấn đến dưới 420 tấn/ngày (cao điểm năm trước sản lượng đạt 415 tấn/ngày); cà rốt 290 tấn - 300 tấn/ngày (cao điểm năm trước là 288 tấn/ngày); khoai tây 80 – 90 tấn/ngày (cao điểm năm trước lượng đạt 80 tấn); xà lách 150 – 160 tấn/ngày (lượng cao điểm năm trước 150 tấn/ngày); cà chua 110-120 tấn/ngày (lượng cao điểm năm trước là 110 tấn/ngày)…

 

Giá nhiều loại trái cây được dự báo sẽ rẻ hơn so với Tết năm ngoái. Chẳng hạn, bưởi da xanh loại có cành dự kiến 73.000 đồng/kg (giảm 7.000 đồng/kg), bưởi 5 roi 43.00 đồng/kg (giảm 2.000 đồng/kg), xoài cát Hòa Lộc 73.000 đồng/kg (giảm 17.000 đồng/kg); quýt đường 55.000 đồng/kg (giảm 10.000 đồng/kg), thanh long 33.000 đồng/kg (giảm 2.000 đồng/kg), dưa hấu dài 13.000 đồng/kg (giảm 1.000 dồng/kg)…

 

Ông Nguyễn Văn Huây, Giám đốc Công ty Quản lý và kinh doanh chợ đầu mối Thủ Đức cho hay nguyên nhân giá trái cây chưng Tết giảm, trong đó các loại trái cây phổ biến như bưởi, xoài, quýt đường… giảm đến 7.000 đồng – 17.000 đồng/kg là do giao dịch tại chợ đầu mối Thủ Đức đang chấp nhận mức giá đó. "Thương lái đang chịu lỗ do mua của nhà vườn giá cao nhưng về đến chợ đầu mối phải bán giá thấp. Một số thương lái đã đặt cọc với nhà vườn chấp nhận bỏ cọc để cắt lỗ" – ông Huây giải thích và cho biết thêm thông tin là tại các nhà vườn ở miền Tây, giá trái cây tại vườn đang cao hơn giá thị trường ở chợ đầu mối là do thương lái phía Bắc và Trung Quốc vào vườn đặt cọc, thu mua giá cao.

 

"Mặc dù vậy, trái cây chưng cúng vẫn nhập chợ đều đặn và tăng lên mỗi ngày. Nguồn cung hiện tại rất dồi dào, không chỉ có miền Tây mà ở khu vực miền Đông cũng trồng cây ăn trái với số lượng lớn và đang rộ mùa thu hoạch Tết. Nguồn hàng rất nhiều nên khó có thể xảy ra hụt hàng, sốt giá" – ông Huây nói thêm.

 

Một số loại trái cây đến kỳ thu hoạch, nhà vườn không thể "neo" lại mà sẽ gọi thương lái đến mua. "Năm ngoái đã có hiện tượng quýt hồng ngày 27, 28 Tết giá 40.000 đồng/kg nhưng đến 29 Tết rớt còn 10.000 đồng/kg" – ông Huây dẫn chứng.

 

Một số loại rau như cải tròn, cà rốt, khoai tây, cải sậy cũng giảm 1.000 đồng – 2.000 đồng/kg. Riêng khổ qua đang ở mức 22.000 đồng/kg, giảm 12.000 đồng/kg.

 

Ông Phạm Thành Kiên, Giám đốc Sở Công Thương TP HCM cho biết chợ đầu mối Thủ Đức là 1 trong 3 chợ đầu mối lớn của TP. Báo cáo sơ bộ của ban quản lý chợ đầu mối Thủ Đức giúp đoàn kiểm tra yên tâm về lượng hàng, giá cả hàng hóa Tết bởi 3 chợ đầu mối Thủ Đức, Bình Điền, Hóc Môn có sự tương đồng về nguồn hàng, giá cả…

 

"Nguồn hàng dồi dào, phong phú. Giá cả có loại tăng loại giảm nhưng cơ bản ổn định. Mình quản lý tốt đến mấy nhưng để xảy ra khan hiếm, dù cục bộ, cũng không hay. Tôi đề nghị Ban quản lý chợ đầu mối Thủ Đức theo dõi sát diễn biến hàng Tết tại chợ, nếu có dấu hiệu bất thường về nguồn hàng, giá cả thì báo ngay về Sở Công Thương để phối hợp xử lý kịp thời, tránh để xáo trộn thị trường" – ông Kiên yêu cầu.

 

Theo tính toán của Sở Công Thương TP HCM, đến ngày 30-1, tổng lượng hàng hóa nhập 3 chợ đầu mối bình quân trên 9.000 tấn/ngày, chủ yếu là các mặt hàng nông sản, rau củ quả, thịt gia súc, thủy hải sản; chiếm khoảng 60 - 70% thị trường. Dự kiến, lượng hàng về chợ tăng khoảng 80% so với ngày thường, lên đến 15.000-16.000 tấn/ngày trong các ngày 27, 28, 29 tháng Chạp.

Nguồn: Báo Người Lao động

 

 

Thủy sản Việt Nam năm 2019: Cần vượt qua nhiều thách thức  (31/01/2019)

Năm 2018, ngành thủy sản ghi nhận những kết quả nổi bật với giá trị sản xuất tăng 7,7% so với năm 2017, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 9 tỷ USD. Dù vậy, bước sang năm 2019, dự báo ngành sẽ phải đối mặt với không ít khó khăn và thách thức.

 

Nhiều thách thức cần vượt qua

 

Năm 2018, thủy sản ghi nhận với giá trị sản xuất đạt khoảng 228.139,8 tỷ đồng, tăng 7,7% so với năm 2017, đồng thời kim ngạch xuất khẩu thủy sản ước đạt khoảng 9 tỷ USD, tăng 8,4%. So với chỉ tiêu tại phương án tăng trưởng năm 2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giá trị sản xuất vượt 2,4%, kim ngạch xuất khẩu đạt 90%. Đây là thành quả thể hiện nỗ lực của thủy sản trong năm vừa qua.

 

Tuy nhiên, bước sang năm 2019, các Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTTP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) sẽ là động lực giúp cho thương mại của Việt Nam có nhiều thuận lợi cũng như cả những thách thức. Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung diễn biến khó lường, có thể tạo ra cơ hội nhưng cũng có khả năng tạo ra những bất ổn.

 

Các thị trường chính tăng cường kiểm soát chất lượng và an toàn thực phẩm như: Hoa Kỳ, EU, Ả rập Xê út, Hàn Quốc… Đặc biệt, việc EC cảnh báo thẻ vàng đối với mặt hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu vào EU từ cuối năm 2017 cũng gây khó khăn với ngành thủy sản Việt Nam nói chung và ngành khai thác thủy sản nói riêng.

 

Theo đánh giá của ông Nguyễn Hoài Nam – Phó Tổng thư ký Hiệp hội chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), với sự biến động vốn có của thị trường, đi cùng với những thuận lợi luôn là những thách thức. Trong đó, những thách thức đòi hỏi hệ thống từ cơ quan nhà nước đến cộng đồng doanh nghiệp và người nuôi phải chuyển đổi về ý thức.

 

“Ví dụ về an toàn thực phẩm, không phải là chuyện mới, nhưng nếu không duy trì hoặc làm tốt hơn thì khi đã bị cảnh báo sẽ mất điểm của nhiều năm nỗ lực. Trong năm tới, đã có những thách thức mà hiện nay chúng ta nhận diện được. Đơn cử như một số nước lớn khu vực châu Âu hoặc là Mỹ đang áp dụng chương trình kiểm soát nhập khẩu. Đây sẽ là những điểm nhấn thách thức cho các doanh nghiệp, cùng với cơ quan nhà nước sẽ phải chung tay nhiều hơn để vượt qua” – ông Nam cho hay.

 

Cùng với những tác động khách quan, những khó khăn nội tại trong năm 2018 vẫn chưa hẳn được tháo gỡ. Đặc biệt là tình trạng các cơ sở hậu cần nghề cá như: cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão… dù đã được quy hoạch, đầu tư nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế phục vụ sản xuất, vẫn còn tình trạng thiếu cảng để neo đậu và bốc dỡ sản phẩm khai thác.

 

Thực tế thiếu lao động trong khai thác hải sản đã và đang phổ biến ở nhiều địa phương dẫn đến nhiều tàu cá phải nằm bờ do không có lao động đi biển. Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật trong ngành thủy sản còn thiếu và chưa đồng bộ.

 

Nỗ lực toàn diện trong năm 2019

 

Năm 2019, Tổng cục Thủy sản tập trung đưa Luật Thủy sản 2017 đi vào cuộc sống, đồng thời tiếp tục chỉ đạo sản xuất thủy sản bám sát định hướng phát triển tại Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020, Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030…

 

Với mục tiêu đề ra: tốc độ tăng giá trị sản xuất thủy sản 4,25% so với năm 2018, tổng sản lượng thủy sản 7.983,8 nghìn tấn (tăng 3,1%), kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt từ 10 tỷ USD, ngành thủy sản đưa ra nhiều giải pháp trọng tâm để triển khai thực hiện.

 

Cụ thể, theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, khí hậu và kịp thời thông báo, hướng dẫn người nuôi về các giải pháp kỹ thuật, tổ chức sản xuất. Tiếp tục thực hiện tái cơ cấu, đẩy mạnh tổ chức sản xuất liên kết ngang và dọc theo chuỗi giá trị, xây dựng đề án liên kết chuỗi giá trị trong sản xuất và tiêu thụ các đối tượng chủ lực.

 

Bên cạnh đó, tổ chức triển khai có hiệu quả kế hoạch hành động quốc gia phát triển ngành tôm Việt Nam đến năm 2025, đề án tổng thể phát triển ngành công nghiệp tôm đến 2025; trình phê duyệt và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển nuôi biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, triển khai các nội dung của đề án cá tra 3 cấp.

 

Trên lĩnh vực khai thác thủy sản, tập trung triển khai các quy định mới, phát triển khai thác thủy sản theo hướng không tăng sản lượng nhưng tăng giá trị thông qua ứng dụng khoa học công nghệ về bảo quản sau thu hoạch, giảm tổn thất sau thu hoạch. Tiếp tục hướng dẫn ngư dân tổ chức khai thác theo tổ, đội để tăng thời gian bám biển, tiết kiệm chi phí di chuyển ngư trường. Xây dựng chuỗi liên kết từ khai thác, thu mua và cung cấp dịch vụ hậu cần ngay trên biển, đặc biệt là chuỗi sản xuất cá ngừ đại dương.

 

Tiếp tục duy trì và triển khai đàm phán song phương, thực hiện các thỏa thuận đã ký với các nước để góp phần giải quyết nhanh chóng và kịp thời các vấn đề trên biển trong chống khai thác IUU, phát triển nuôi biển và kêu gọi đầu tư vào các trung tâm nghề cá lớn.

 

Song song với đó, tập trung thu hút các nguồn vốn ngoài ngân sách để đầu tư vào các cảng cá động lực thuộc Trung tâm nghề cá lớn, tập trung hoàn thành một số cảng cá đang được đầu tư để nâng công suất các cảng cá với tổng lượng hàng qua cảng tăng thêm khoảng 30 nghìn tấn, hoàn thành một số khu neo đậu để nâng công suất thêm khoảng 6 nghìn tàu cá.

 

Định hướng phát triển ngành thủy sản trong năm tới, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường cho rằng, cần xã hội hóa nhiều hơn những công tác mà ngành “gánh còn khá nặng”. Đặc biệt, trong khu vực khai thác, cần rà soát đánh giá lại kế hoạch tổng thể trung và dài hạn để hình thành nghề cá hiệu quả. Đồng thời, cần quan tâm đến vấn đề thiết chế hạ tầng; trong nuôi trồng, cần tăng giá trị gia tăng của sản phẩm nuôi, phát huy tiềm năng vùng nuôi còn dư địa, thủy sản đặc sản.

 

Mặt khác, cần chú ý đến hai sản phẩm chủ lực của thủy sản là tôm và cá tra. Đồng thời, tập trung triển khai đồng bộ các nội dung của Luật Thủy sản, hoàn thiện văn bản pháp luật và tổ chức triển khai với quyết tâm hành động cao nhất./.

Nguồn: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam