CỔNG THÔNG TIN SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG
nông nghiệp an giang
Điểm tin thị trường

Tin thị trường ngày 02/01/2019

09:00 02/01/2019

Cập nhật giá heo hơi hôm: Người chăn nuôi đối mặt nỗi lo kép - Giá cá tra ‘lên đồng’, coi chừng sập bẫy - Cá tra, basa từ chợ quê đi ra thế giới - Bưởi thỏi vàng, hồ lô chưa Tết đã 'cháy' hàng - Kiên Giang: Chuối ế, mía trổ cờ trắng phau, dân "đau" lo mất Tết.

 

Cập nhật giá heo hơi hôm: Người chăn nuôi đối mặt nỗi lo kép  (02/01/2019)

Cùng với việc giá heo tiếp tục giảm người chăn nuôi còn phải đối mặt với dịch lở mồm long móng.

 

Ngay ngày đầu năm mới giá người chăn nuôi đối mặt nỗi lo kép khi giá lợn vẫn giảm nhiều nơi, cùng với đó dịch lở mồm long móng. Theo khuyến cáo của Cục Thú y, trong điều kiện thời tiết hiện nay, nguy cơ tiếp tục phát sinh các ổ dịch trên đàn gia súc chưa được tiêm phòng vắcxin LMLM hoặc đàn gia súc khỏe mạnh được vận chuyển đến vùng có ổ dịch cũ là rất cao.

 

Giá heo hơi hôm nay 2/1 tại miền Bắc tiếp tục giảm. Cụ thể giá heo hơi tại tỉnh Tuyên Quang, Vĩnh Phúc giảm xuống 2.000 đồng/kg, xuống còn 41.000 đồng/kg. Ngoài ra, giá heo hơi tại Yên Bái giảm 1.000 đồng xuống 44.000 đồng/kg.

 

Các địa phương khác, giá heo hơi không có nhiều thay đổi so với ngày hôm qua. Trong đó, tại Hưng Yên, Hà Nội, Ninh Bình, Lào Cai giá heo hơi giữ vững mức 45.000 - 46.000 đồng/kg.

 

Trong khi, giá heo hơi tại Thái Nguyên, Hải Dương, Hà Nam, Phú Thọ, Thái Bình dao động trong khoảng 41.000 - 43.000 đồng/kg.

 

Cập nhật giá heo hơi hôm nay tại khu vực các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên giảm nhiều nhất trong tuần qua, có nơi giảm từ 1.000 - 4.000 đồng/kg, do vậy, hiện mức giá heo hơi bình quân khu vực chỉ còn 45.000 đồng/kg.

 

Hiện toàn miền vẫn có sự chênh lệch giữa các tỉnh ở Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Nam Trung Bộ đang có giá tốt hơn dao động từ 46.000 - 51.000 đồng/kg như Lâm Đồng, Binh Thuận, Ninh Thuận,....

 

Các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế,... dao động từ 41.00 - 45.000 đồng/kg.

 

Giá heo hơi hôm nay 1/1 tại miền Nam cũng giảm từ 1.000 - 2.000 đồng/kg. Cụ thể, Tây Ninh giảm 2.000 đồng xuống 50.000 đồng/kg; Vũng Tàu giảm từ 49.000 xuống còn 48.000 đồng/kg.

 

Trong khi đó, Bình Dương là tỉnh duy nhất toàn miền có giá tăng nhẹ từ 49.000 lên 50.000 đồng/kg.

 

Các tỉnh, thành khác trên khu vực không có nhiều thay đổi so với ngày hôm qua. Hiện giá heo hơi tại các tỉnh như: Tiền Giang, An Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, TP HCM, Kiền Giang ... heo hơi đang được giao dịch trong mức 51.000 - 52.000 đồng/kg, Đồng Nai 46.000 - 50.000 đồng/kg, Bình Phước, Bến Tre, Sóc Trăng giá heo hơi đang ở mức 48.000 - 49.000 đồng/kg.

 

Hiện nay cả nước có 26 ổ dịch lở mồm long móng xảy ra tại 5 tỉnh, thành phố, gồm: Hà Nội (5 ổ dịch), Hòa Bình (3 ổ dịch), Bắc Ninh (9), Hà Nam (2 ổ dịch), Hà Tĩnh (7 ổ dịch) chưa qua 21 ngày; các ổ dịch khác không phát sinh gia súc mắc bệnh.

Nguồn: báo sức khỏe cộng đồng

 

 

Giá cá tra ‘lên đồng’, coi chừng sập bẫy  (02/01/2019)

Trung Quốc đang phát triển nghề nuôi cá tra với quy mô lớn, cạnh tranh với Việt Nam. Xuất khẩu cá tra tăng trưởng ngoạn mục tới 26,4% và đạt kim ngạch 2,26 tỉ USD trong năm 2018, cao nhất từ trước tới nay. Tuy nhiên, ngành này đang đối diện với nhiều rủi ro mới, đặc biệt là từ thị trường Trung Quốc (TQ).

 

Doanh nghiệp Trung Quốc hưởng lợi

 

Cá tra xuất khẩu Việt Nam (VN) đã vượt qua nhiều rào cản, quy định khó khăn của các thị trường khắt khe về chất lượng như Mỹ, châu Âu. Điều này đã minh chứng cho thế giới thấy chất lượng của cá tra VN.

 

Tuy nhiên, theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản VN (VASEP), xuất khẩu cá tra sang TQ hiện nay gặp nhiều khó khăn vì rào cản về kiểm nghiệm, kiểm dịch. Ví dụ, trong khi quy định dư lượng phosphat trong cá tra của châu Âu là không vượt quá 4% nhưng phía TQ khi kiểm tra sản phẩm cá tra VN lại nhận định sản phẩm có dư lượng, không đạt tiêu chuẩn của nước họ.

 

Bên cạnh đó, theo VASEP, hiện nhiều công ty của TQ lợi dụng chính sách tạm nhập tái xuất để thu mua nguyên liệu thủy sản nhập khẩu từ nước ngoài vào cảng Hải Phòng. Sau đó vận chuyển đường bộ sang TQ theo chính sách hàng tiểu ngạch để lách thuế nhập khẩu và biến thành nguồn tôm, cá của TQ xuất khẩu sang Mỹ, Nhật, EU.

 

“Với chiêu thức trên, thương nhân TQ cạnh tranh thu mua nguồn nguyên liệu cá tra với nhà kinh doanh VN ngay trên sân nhà, đồng thời cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu khác” - ông Trương Đình Hòe, Tổng Thư ký VASEP, phân tích.

 

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Văn Đạo, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Gò Đàng, cho rằng hiện nay TQ không kiểm soát chặt chất lượng đối với các mặt hàng nhập đường tiểu ngạch. Hơn nữa, mặt hàng cá tra xuất qua đường biên mậu với TQ không phải chịu 17% thuế giá trị gia tăng.

 

“Điều này tạo cơ hội cho các nhà kinh doanh nước này tung hoành thu gom nguyên liệu thủy sản như cá tra từ VN với giá rẻ về chế biến xuất khẩu, dẫn đến phá giá là rất lớn so với các sản phẩm nhập chính ngạch qua đường biển của VN” - ông Đạo cảnh báo.

 

Đáng chú ý, TQ đang phát triển nuôi loại cá này với quy mô sản lượng lớn. Cụ thể, TQ có thể sản xuất tới 30.000 tấn cá tra trong năm 2018 và giá cạnh tranh hơn so với các sản phẩm từ VN.

 

Nguy cơ bất ổn vì tăng trưởng quá nóng

 

Nhiều ý kiến có chung nhận định rằng xuất khẩu cá tra sang thị trường TQ còn nhiều tiềm năng do nhu cầu tiêu thụ lớn, sản phẩm đa dạng, thuận lợi về giao thương. Tuy vậy, thị trường TQ đang tăng trưởng quá nóng, ẩn chứa nhiều bất ổn, rủi ro như nguy cơ phá giá.

 

Do vậy, để giúp ngành cá tra phát triển bền vững, ông Trương Đình Hòe, Tổng Thư ký VASEP, cho hay đơn vị này đã đề nghị Bộ NN&PTNT đề xuất Bộ Công Thương có đánh giá, kiến nghị Chính phủ xem xét, điều chỉnh chính sách kiểm soát tốt hơn hàng tạm nhập tái xuất, hạn chế tác động tiêu cực đến sản xuất xuất khẩu của VN. Đồng thời, VASEP đề nghị Bộ NN&PTNT có những biện pháp quản lý chặt chẽ hơn hoạt động xuất khẩu cá tra, thủy hải sản qua đường tiểu ngạch.

 

“Chúng tôi cũng đề nghị Bộ NN&PTNT áp dụng quản lý chất lượng thông qua việc cấp và kiểm tra chứng thư chất lượng trước khi xuất khẩu sang nước này; kiểm tra các cơ sở gia công, sơ chế thủy sản hiện nay để đảm bảo chất lượng thủy sản xuất khẩu qua biên giới” - ông Hòe cho biết thêm.

 

Chủ tịch Hiệp hội Cá tra VN, ông Dương Nghĩa Quốc, bày tỏ lo ngại khi xuất khẩu cá tra sang TQ theo đường tiểu ngạch đang chiếm đến 40% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong khi đó, giá xuất khẩu giữa đường chính ngạch và tiểu ngạch chênh lệch khá lớn, lên đến 1 USD/kg làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp VN.

 

Đó là chưa kể các công ty TQ nhập khẩu với giá rẻ, sau đó chế biến sản phẩm dưới tên gọi khác, ảnh hưởng đến uy tín cá tra VN. Do vậy, ông Quốc cho rằng để ổn định lâu dài, các doanh nghiệp Việt cần đi theo hướng xuất khẩu chính ngạch và kiểm soát chặt chẽ chất lượng để tránh rủi ro.

 

Bất thường giá cá tra

 

Thời gian qua, giá cá tra thương phẩm có lúc “lên đồng” với mức giá tới 36.000-37.000 đồng/kg, cao nhất từ trước tới nay. Nhưng trong tháng cuối năm 2018, giá cá tra đã giảm hơn 10.000 đồng/kg, còn 26.000-27.000 đồng/kg.

 

Ông Dương Nghĩa Quốc, Chủ tịch Hiệp hội Cá tra VN, nhìn nhận việc tăng, giảm của thị trường là bình thường nhưng tăng, giảm kiểu trên là bất thường; có dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh, hiện tượng mua hàng giá thấp rồi bán phá giá qua đường tiểu ngạch với TQ.

 

Đại diện Hiệp hội Cá tra VN cũng cho biết: Năm 2018, giá cá tra nguyên liệu ở mức cao khiến nhiều địa phương, đặc biệt là vùng Đồng Tháp Mười… đổ xô đào ao thả cá. Trước tình hình trên, Bộ NN&PTNT và các hiệp hội đã khuyến cáo nguy cơ cung vượt cầu khi cá tra lao dốc, nhất là thời điểm xuất khẩu sang thị trường TQ tăng nóng, khi gặp đợt sập giá sẽ khiến người nuôi thua lỗ.

 

Theo Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), VN vẫn là nước xuất khẩu cá tra lớn nhất thế giới với thị phần chiếm 93%. Hiện nay Mỹ đã vượt qua TQ, trở lại là thị trường tiêu thụ cá tra VN lớn nhất. Cụ thể ở thị trường Mỹ, VN chiếm thị phần cá da trơn đến 91%, TQ chiếm thị phần 9%.

Nguồn: báo Pháp luật TP HCM

 

 

Cá tra, basa từ chợ quê đi ra thế giới   (02/01/2019)

Cá tra, basa đã được nông dân ĐBSCL nuôi từ khá lâu, nhưng suốt một thời gian dài, nó chỉ là một loại thực phẩm bán ở các chợ quê vùng sông nước Nam Bộ.

 

Mãi đến cuối thập niên 1980, cá tra, basa mới được một doanh nhân chú ý tới và giới thiệu tới đối tác nước ngoài. Từ đây, cá tra, basa bắt đầu một hành trình dài từ chợ quê đi ra thế giới, với sự đóng góp công sức của nhiều thế hệ doanh nhân, nông dân, nhà khoa học, tổ chức trong và ngoài nước. 

 

Thực phẩm chợ quê

 

Không ai biết chính xác cá tra, basa được nông dân ĐBSCL nuôi từ bao giờ. Trong ký ức về thời tuổi thơ của bà Trương Thị Lệ Khanh, Chủ tịch HĐQT Cty CP Vĩnh Hoàn (Đồng Tháp), người gắn bó suốt cả quãng đời thơ ấu bên bờ sông Cửu Long vùng giáp biên giới Campuchia, thuộc thị trấn Long Bình, huyện An Phú, An Giang, nghề nuôi cá lồng bè trên sông Cửu Long được những kiều bào sống ở Biển Hồ (Campuchia) mang về. Trong những loài cá được nông dân nuôi trong lồng bè, có con cá basa. Còn con cá tra, từ hàng chục năm trước, đã được nhiều nông hộ lấy cá giống từ tự nhiên, thả vào nuôi trong ao đất.

 

Ngày ấy, cá basa được người dân địa phương gọi là con cá bụng và nó có cái bụng trắng phình to chứa 2 lá mỡ lớn. Nông dân mua cá giống từ khai thác tự nhiên, đem về thả vào các lồng bè, rồi nấu thức ăn cho cá bằng cám gạo, rau muống… Chỉ ăn vậy thôi mà cá basa, con nào con nấy đều béo ngậy, thịt trắng và thơm ngon. Đến lúc thu hoạch, người nuôi cá chèo chống cả bè cá đi bán ở những chợ đầu mối. Sau đó, cá tỏa đi khắp các chợ quê ĐBSCL và dần trở thành một loại thực phẩm quen thuộc trong bữa cơm của nhiều người dân Nam Bộ qua những món ăn đặc trưng của vùng châu thổ như canh chua, cá kho tộ, cá bụng nấu mắm Châu Đốc chấm rau đồng …

 

Đến thập niên 1980, cá tra, basa vẫn chỉ là sản phẩm địa phương, được nông dân nuôi tự phát và tiêu thụ ở các chợ quê. Chưa có ai nghĩ tới việc thương mại hóa cá tra, basa, càng không nghĩ tới chuyện tổ chức sản xuất và xuất khẩu. 

 

Đi ra thế giới

 

Đến cuối những năm 1980, cá basa mới bắt đầu lọt vào “mắt xanh” của một số doanh nhân thủy sản Việt Nam và Úc. Doanh nhân người Việt đầu tiên nhận thấy tiềm năng xuất khẩu cá basa là ông Nguyễn Thành Hưng (Mười Hưng), Giám đốc Xí nghiệp Đông lạnh Xuất khẩu I (nay là Cty Thực phẩm Đông lạnh Xuất khẩu Sài Gòn) ở TP.HCM.

 

Thường xuyên về ĐBSCL để thu mua thủy sản xuất khẩu, ông Hưng đã quen với hình ảnh và hương vị của cá basa qua những món ăn dân dã nơi này. Nhận thấy cá basa với thớ thịt trắng, béo bùi, dễ dàng chế biến được nhiều sản phẩm, món ăn và có thể thay thế cho cá biển, ông Mười Hưng đã bắt đầu nghĩ tới việc chế biến, xuất khẩu loại cá này. Mười Hưng giới thiệu cá basa với đối tác người Úc, và được họ chấp nhận.

 

Năm 1987, với sự hướng dẫn của Cty Independent Seafood của Úc, Xí nghiệp Đông lạnh Xuất khẩu I đã bắt đầu tiến hành chế biến philê cá basa. Sau đó, Cty Independent Seafood đã đặt mua 2 tấn philê cá basa mang về Úc làm mẫu, giới thiệu tới người tiêu dùng nước này. Chỗ cá đó nhanh chóng được người Úc đón nhận nồng nhiệt. Ngay sau đó, Cty Independent Seafood chính thức đặt mua những lô hàng philê cá basa tiếp theo. Và ông Mười Hưng đã được ghi danh vào lịch sử của ngành hàng cá tra với tư cách là người đầu tiên đưa cá tra, basa vượt ra khỏi biên giới Việt Nam, để đến với thị trường thế giới. Đó là tiền đề quan trọng để cá tra, basa thay đổi thân phận, từ một sản phẩm chỉ quanh quẩn ở các chợ quê chuyển mình thành một sản phẩm xuất khẩu, từ ao làng đi ra biển cả mênh mông của thị trường thế giới. 

 

Nghề nuôi hình thành

 

Không dừng lại ở đó, ông Nguyễn Thành Hưng còn là người đi tiên phong trong việc tổ chức nuôi basa theo hướng sản xuất hàng hóa nhằm chủ động nguồn nguyên liệu.

 

Trong hơn 30 năm qua, cá tra, basa đã đi một bước rất dài, từ một sản phẩm nuôi tự phát, phục vụ nhu cầu tại chỗ, trở thành một ngành hàng sản xuất lớn, từ chợ quê đi ra thế giới. Hành trình đi ra biển lớn của cá tra, basa có sự đóng góp thầm lặng của bao thế hệ doanh nhân, nông dân, nhà khoa học và các tổ chức trong và ngoài nước. Chính những con người ấy bằng bàn tay, khối óc của mình, đã cùng nhau đánh thức được một tiềm năng to lớn của ĐBSCL từ một món quà quý giá mà dòng Mekong đã ban tặng cho vùng đất này: Cá tra, basa.

Năm 1988, ông đã liên kết với Cty Mekong ở Châu Đốc (An Giang) và đầu tư 300 lượng vàng để công ty này đóng 10 bè gỗ nuôi cá basa trên sông Hậu. Ông cam kết bao tiêu toàn bộ sản lượng cá. Bắt đầu từ đó, nghề nuôi lồng bè cá basa ở Châu Đốc phát triển mạnh và nhanh chóng được nhân rộng ra những nơi khác. Nguồn nguyên liệu cá hàng hóa tăng lên giúp cho việc hình thành dần ngành hàng cá basa khi có thêm sự xuất hiện của những nhà máy mới chuyên chế biến xuất khẩu sản phẩm này.

 

Đầu những năm 1990, những người nuôi cá basa bắt đầu tính tới việc thay thế dần con cá này bằng cá tra. Nguyên nhân là do đầu tư một bè cá rất tốn kém vì phải dùng gỗ tốt, mà cá basa lại không thể nuôi quá dầy trong bè, nên chi phí sản xuất khá cao. Trong khi đó, cá tra tuy màu sắc thịt không trắng sáng như basa, nhưng lại ít mỡ, tỷ lệ thu hồi cao và có thể nuôi với mật độ cao.

 

Trước đó, cá tra vốn chỉ được nuôi trong các ao đất nên giá trị thấp vì thịt có màu vàng hay vàng chanh, và chỉ được tiêu thụ tại địa phương. Khi được đưa vào nuôi ở các lồng bè, cá tra phát triển rất tốt, tỷ lệ cá đạt chất lượng thịt trắng tăng mạnh, lợi nhuận cao hơn tới 30 - 40% so với cá tra sau 1 chu kỳ nuôi. Một số nhà máy mạnh dạn thu mua cá tra đưa vào chế biến xuất khẩu với tên gọi là River Cobler.

 

Khi ra thị trường thế giới, cá tra với giá thấp hơn basa và có màu trắng hồng, đã nhanh chóng được chấp nhận. Từ đó, xu thế chuyển nuôi bè từ cá basa sang cá tra trở nên mạnh mẽ hơn. Bà Trương Thị Lệ Khanh cho rằng đây là cột mốc quan trọng đánh dấu sự chuyển đổi phương thức nuôi, góp phần cải thiện chất lượng thịt cá xuất khẩu.

 

Tới năm 1993, một số người nuôi cá tra hàng hóa bắt đầu thử nghiệm đào ao nuôi cá thay vì nuôi bè. Sở dĩ có điều này là vì nuôi bè chi phí khá cao, và mỗi khi người nuôi đi trên bè gỗ tạo ra tiếng kêu “cọt kẹt”, cả đàn cá trong bè lại rộ lên, vẫy bơi mạnh, đâm đầu vào bè. Điều này vừa khiến cá tra bị stress ảnh hưởng tới sự tăng trưởng, và làm tăng việc tiêu tốn thức ăn.

 

Khác với nuôi ao thời cá tra vẫn chỉ là sản phẩm địa phương, những người nuôi ao cá tra hàng hóa đã kết hợp nuôi bè và nuôi ao truyền thống bằng cách đào ao trên các cồn hoặc dọc theo bờ sông để lợi dụng mực nước thủy triều lên xuống nhằm điều chỉnh lượng nước ra vào ao. Nhờ đó, cá giữ được màu sắc trắng của thịt một cách ổn định, cho năng suất cao hơn nuôi bè. Đây chính là hình thức nuôi cá tra hàng hóa tốt nhất nên đã nhanh chóng được nhân rộng và duy trì tới tận ngày hôm nay, qua đó góp phần quan trọng đưa sản lượng cá tra hàng hóa lên tới trên 1 triệu tấn trong những năm qua.

 

Sinh sản nhân tạo

 

Để nghề nuôi cá tra phát triển mạnh, trở thành một ngành hàng nông sản chủ lực ở ĐBSCL, còn có sự đóng góp không nhỏ của việc sinh sản nhân tạo thành công giống cá tra và sự xuất hiện các sản phẩm thức ăn công nghiệp giành cho cá tra.

 

Năm 1994, các nhà khoa học Pháp và Việt Nam đã cho sinh sản nhân tạo thành công giống cá basa tại Khoa Thủy sản (ĐH Cần Thơ). Năm 1996, tổ chức CIRAD (Pháp) khởi động Dự án cá da trơn châu Á với sự tham gia của 4 nước là Việt Nam, Indonesia, Pháp và Bỉ. 1 năm sau, nhóm nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá basa thuộc Dự án trên thử nghiệm trên cá tra để thử nghiệm các chỉ tiêu sinh sản giữa 2 loài cá.

 

Kết quả thu được vượt quá mong đợi khi cá tra co sức sinh sản gấp nhiều lần so với basa. Không những thế, nhóm nghiên cứu còn giải quyết được bài toán ương nuôi khi dưỡng cá bột trong ao nuôi với môi trường nước và dinh dưỡng phù hợp để tránh cho cá bột ăn nhau. Sau khi được hoàn thiện, kỹ thuật sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá tra đã được chuyển giao cho người dân, tạo thành nghề sản xuất cá tra giống ở ĐBSCL. Đây cũng là một đòn bẩy quan trọng cho việc phát triển mạnh nghề nuôi, sản lượng cá tra.

Nguồn: báo Nông nghiệp Việt Nam

 

 

Bưởi thỏi vàng, hồ lô chưa Tết đã 'cháy' hàng  (01/01/2019)

Giá mỗi trái bưởi hồ lô, thỏi vàng dao động 600.000 - 1,2 triệu đồng.

 

Còn hơn một tháng nữa mới đến Tết Nguyên đán 2019, nhưng các sản phẩm trái cây tạo hình đã được đặt hàng từ sớm, nhiều loại thậm chí "cháy hàng".

 

Ông Võ Trung Thành - Chủ nhiệm Câu lạc bộ Khuyến nông Phú Trí A (xã Phú Tân, huyện Châu Thành) cho biết, năm nay lượng đặt hàng tăng cao nên câu lạc bộ của ông đã quyết định hướng dẫn và mở rộng quy mô sản xuất sản phẩm, song song đó, liên kết với nông dân ở các tỉnh miền Tây để cho ra đời 8.500 trái bưởi hồ lô, giá 250.000 – 1,2 triệu đồng một trái (tùy kích cỡ) có khắc chữ nổi "tài lộc" để cung ứng ra thị trường.

 

Ngoài ra, câu lạc bộ đang tạo hình vài nghìn trái dưa hấu. Đặc biệt, năm nay ông sẽ cung ứng ra thị trường dưa hấu và bưởi hình thỏi vàng. Trong đó, dưa hấu dự kiến 400 trái, bưởi 300 trái, giá bán dao động 600.000 - 800.000 đồng.

 

"Năm nay lượng khách đặt hàng tăng 20% so với mọi năm nên đến nay lượng hàng đặt mua đã đạt 88%, chỉ còn khoảng 1.000 trái là chưa có khách đặt", ông Thành nói.

 

Cũng cho biết đang "cháy hàng", ông Ngô Văn Sơn, người dân ấp Tân Triều, xã Tân Bình, cho biết mùa Tết năm nay gia đình ông tạo hình hơn 400 trái bưởi trái bưởi hình hồ lô, bưởi hình thỏi vàng tại làng bưởi Tân Triều (xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai) hiện đã được thương lái đặt mua hết.

 

Ngoài ra, năm nay ông Sơn còn tung ra thị trường 10 chậu bưởi kiểng 2 năm tuổi, trái được tạo hình hồ lô, thỏi vàng có chữ tài – lộc. Mỗi chậu kiểng có giá 5 triệu đồng, toàn bộ cũng đã được thương lái đặt mua hết.

 

Theo giới tạo hình trái cây năm nay, tỷ lệ tạo hình bưởi hồ lô, bưởi hình thỏi vàng thành công không cao. Mặt khác, thời tiết ít thuận lợi nên lượng trái đậu đạt chuẩn không nhiều. Dù sản lượng năm nay không cao nhưng giá sản phẩm giảm 10% so với năm ngoái.

Nguồn: báo VNEXPRESS

 

 

Kiên Giang: Chuối ế, mía trổ cờ trắng phau, dân "đau" lo mất Tết  (01/01/2019)

Huyện U Minh Thượng (tỉnh Kiên Giang) có 1.500 ha trồng mía và gần 3.000 ha trồng chuối chủ yếu tại các xã thuộc An Minh Bắc, Minh Thuận, Thạnh Yên và Vĩnh Hòa. Mía, chuối rớt giá liên tục, nông dân lao đao, thậm chí không cần thu hoạch.

 

Vào những ngày này, đi dọc vùng đệm U Minh Thượng qua các xã Minh Thuận, Vĩnh Hòa, người ta thấy mía quá độ thu hoạch trổ cờ trắng phau trên nhiều cánh đồng. Ông Trần Trung Thành (xã Vĩnh Hòa) cho biết gia đình ông có hơn 2 ha mía, mỗi năm thu về khoảng 70-80 triệu đồng.

 

“Năm nay thu hoạch một nửa mà chưa được 20 triệu đồng, phần còn lại chưa biết có thu hoạch không vì giá mía quá thấp, công đốn mía đắt đỏ, thuê không có người. Cận Tết rồi mà không có tiền trả nợ ngân hàng, không có tiền sắm đồ Tết cho con, thật buồn!” - ông Thành ngậm ngùi.

 

Ông Nguyễn Văn Hiền, Chủ tịch Hội Nông dân huyện U Minh Thượng, cho hay huyện còn khoảng 350 ha mía chưa thu hoạch, tương đương gần 30.000 tấn mía không có thương lái đến mua. “Hiện mía đem ra tận ngoài đê bao thương lái mua 420 đồng/kg, còn trong đê bao chỉ 350 đồng/kg vì phải thuê nhân công chở ra ngoài đê. Giá xuống quá thấp làm nhiều hộ để mía chết khô rồi đốt bỏ” - ông Hiền nói.

 

Cũng theo ông Hiền, do lo nông dân trồng mía không có đầu ra, mỗi năm từ đầu vụ, huyện U Minh Thượng đã phối hợp với Công ty Cổ phần Mía đường Cần Thơ ký kết bao tiêu với giá 830 đồng/kg mía (loại đạt 10 chữ đường), giao tại nhà máy đường ở Vị Thanh (Hậu Giang).

 

“Năm nay do nguồn cung mía nguyên liệu tăng, nhà máy sản xuất đường không tiêu thụ được nên không mua mía vào. Lý do họ đưa ra là “mía không đủ chữ đường” nên không mua hoặc mua với giá bèo” - ông Hiền cho biết thêm.

 

Giá chuối “tuột dốc không phanh”

 

Chung tình cảnh như nông dân trồng mía, những hộ trồng chuối xiêm nơi đây cũng đang điêu đứng bởi giá chuối “tuột dốc không phanh”. Chuối là một trong hai loài cây trồng chủ lực được huyện U Minh Thượng khuyến khích trồng vì phù hợp với vùng đệm, chi phí chăm sóc thấp, nhiều năm qua mang lại thu nhập tương đối tốt cho người dân.

 

Hiện toàn huyện có khoảng 3.000 ha trồng chuối chủ yếu ở hai xã An Minh Bắc và Minh Thuận.

 

Ông Phạm Văn Nghị (xã An Minh Bắc) cho biết trước Tết nguyên đán 2018, thương lái vào tận bờ bao mua chuối với giá 4.000-6.000 đồng/nải thì khoảng tháng 6-2018 đến nay, chuối thu hoạch xong chuyển ra tận bờ bao nhưng thương lái chỉ mua với giá 2.000 đồng/nải.

 

Còn ông Nguyễn Văn Phương (xã An Minh Bắc) có 4 ha chuối, những năm trước đây mỗi tháng gia đình ông thu nhập không dưới 80 triệu đồng từ chuối nải và bắp chuối. Nhưng với giá cả hiện nay chỉ còn khoảng 20 triệu đồng/tháng.

 

“Lúc hút hàng, chuối lớn nhỏ gì thương lái cũng mua hết, giờ trái hơi nhỏ chút họ cũng bỏ lại nên nhiều người tận dụng thu hoạch bắp chuối bán 3.000 đồng/bắp. Chưa bao giờ giá chuối trái rớt thảm như bây giờ” - ông Phương lo lắng.

 

Thương lái mua chuối vùng U Minh Thượng chủ yếu bán qua Campuchia. Nhưng hiện Campuchia cũng trồng chuối nhiều nên người dân gặp khó. Chuối không bán được phải chặt cho cá ăn, nhiều người bỏ công lột vỏ nướng bán hoặc đem chuối đi bán dạo.

 

Ông NGUYỄN VĂN HIỀN, Chủ tịch Hội Nông dân huyện U Minh Thượng : Theo nhiều nông dân, mía các vụ trước giá khoảng 1.000 đồng/kg, đến đầu năm 2018 giảm còn 830 đồng/kg, nông dân vẫn có lãi. Thế nhưng với giá 350-420 đồng/kg như hiện nay, nông dân chỉ còn biết bỏ mía ngoài đồng.

Nguồn: PLO.VN