CỔNG THÔNG TIN SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG
nông nghiệp an giang
Điểm tin thị trường

Tin thị trường ngày 01/10/2019

09:00 01/10/2019

Đường nội tiếp tục lao đao - Triển vọng lớn với nuôi cá tra hữu cơ - Dự báo nhiều khó khăn trong sản xuất lúa Đông Xuân 2019 – 2020 - Khổ vì... gà - Thái Lan giảm nhập khẩu hạt tiêu Việt Nam.

 

Đường nội tiếp tục lao đao  (01/10/2019)

Dù đã kết thúc niên vụ nhưng đến nay, đã hơn 4 tháng, lượng đường tồn kho vẫn ở mức cao và được cho là cao nhất trong các năm trở lại đây.

Mỗi năm, Việt Nam có nhu cầu khoảng 1,7 triệu tấn đường trong khi nguồn cung trong nước mới cung cấp được khoảng 1,4 triệu tấn. Những tưởng là còn chưa đủ cho nhu cầu thì thị trường tiêu thụ sẽ tốt. Tuy nhiên, một nghịch lý kéo dài lâu nay là có đến một nửa số đường sản xuất ra đang bị tồn kho và có tới 1/3 số nhà máy đường đã lần lượt đóng cửa hoặc bỏ hoang. Nguyên nhân chính thật đau xót là bởi đường nhập lậu.

Sản xuất đường ra lại không bán được nhưng không phải vì chất lượng mà do cạnh tranh không lành mạnh do đường phá giá từ con đường nhập lậu. Dù nhiều nhà máy đã đầu tư làm ra được đường luyện là đường tốt nhất hiện nay nhưng vẫn chịu thua.

Bản chất đường nhập lậu hiện nay là đường phá giá. Đây là một hình thức gian lận quốc tế. Điều này có nghĩa đường lậu từ nước ngoài có 2 mức giá. Khi bán trong nước thì giá cao nhưng xuất ra nước khác như đưa về Việt Nam thì giá lại cực thấp. Tính trung bình mỗi kg đường nhập lậu có mức giá thấp hơn từ 5.000 - 7.000 đồng/kg. Trong khi đó, mỗi năm, đường lậu về chiếm đến 50% lượng đường sản xuất trong nước.

Nhiều câu hỏi đặt ra là con đường đưa đường lậu về Việt Nam có dễ dàng và vì sao tình trạng này đã tồn tại hơn 20 năm qua nhưng không xử lý được? Có hay không chiêu thức biến hóa đường lậu thành đường nội một cách tinh vi?

Nguồn: Vtv.vn

 

 

Triển vọng lớn với nuôi cá tra hữu cơ  (01/10/2019)

Mức giá mà người tiêu dùng Đức đang bỏ ra để mua 1kg cá tra phi lê organic (cá tra hữu cơ) từ Việt Nam là 220.000 - 225.000 đồng.

Mức giá này đang mở ra triển vọng lớn cho người nuôi cá tra đẩy mạnh đầu tư sản xuất theo hướng an toàn, hữu cơ.

Hiện Đức là thị trường nhập khẩu cá tra lớn thứ 3 của Việt Nam tại EU. Tính đến cuối tháng 8/2019, xuất khẩu cá tra sang thị trường Đức đạt hơn 20 triệu USD, tăng 35% so với cùng kỳ năm 2018. Đáng chú ý, một số doanh nghiệp cá tra tại ĐBSCL đã xuất khẩu sản phẩm phi lê cá tra organic (nuôi hữu cơ) sang thị trường này với giá xuất khẩu trung bình 9,6 - 9,8 USD/kg.

Nguồn: Vtv.vn

 

 

Dự báo nhiều khó khăn trong sản xuất lúa Đông Xuân 2019 – 2020  (01/10/2019)

Sản xuất lúa Đông Xuân 2019 - 2020, tỉnh Kiên Giang có kế hoạch gieo trồng 289.000 ha, phấn đấu năng suất bình quân 6,9 tấn/ha, sản lượng 2 triệu tấn trở lên. Đến đầu tháng 10, tỉnh đã xuống giống hơn 5.000 ha, tập trung ở huyện U Minh Thượng

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kiên Giang đã xây dựng lịch thời vụ trên các vùng sản xuất trọng điểm, khuyến cáo nông dân tuân thủ gieo sạ đúng lịch, nhằm hạn chế dịch bệnh gây hại, xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt.

Tuy nhiên, dự báo sản xuất lúa Đông Xuân 2019 - 2020 ở tỉnh Kiên Giang sẽ gặp nhiều khó khăn, bất lợi so với những vụ mùa trước đây.

Theo dự báo của Trung tâm Dự báo khí tượng Thủy văn Quốc gia, trong mùa lũ 2019 ít có khả năng xuất hiện lũ sớm ở đầu nguồn sông Cửu Long, đỉnh lũ ở mức thấp hơn đỉnh lũ trung bình nhiều năm và mùa mưa kết thúc sớm. Tổng lượng dòng chảy thượng nguồn Mê Công về khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thiếu hụt lớn so với trung bình nhiều năm. Mực nước trước nguy cơ thấp hơn năm 2015, là năm lũ rất nhỏ kéo theo hệ lụy xâm nhập mặn và hạn hán gay gắt năm 2016, kịch bản này có khả năng lặp lại, thậm chí là nghiêm trọng hơn trong những tháng cuối năm 2019 và đầu năm 2020, gây bất lợi cho sản xuất.

Theo đó, lũ thấp dẫn đến nước vô đồng hạn chế, ít phù sa bồi đắp cho ruộng, các độc chất và mầm bệnh còn lưu tồn không được rửa trôi sẽ gây khó khăn cho sản xuất lúa vụ Đông Xuân 2019 - 2020 và dự báo một số đối tượng dịch hại như chuột, ốc bươu vàng... có thể xuất hiện, gây hại vào đầu vụ. Ngoài ra, sản xuất lúa Đông Xuân chính vụ thời tiết nắng nóng ở giai đoạn đòng - trỗ là điều kiện thích hợp cho rầy phấn trắng, bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá xuất hiện gây hại.

Khắc phục những khó khăn, bất lợi này, ngành nông nghiệp tỉnh Kiên Giang phối hợp với các địa phương hướng dẫn nông dân bố trí cơ cấu giống hợp lý, chủ động khắc phục khô hạn, thiếu nước, xâm nhập mặn. Xuống giống tập trung, né rầy theo khung lịch thời vụ. Bón phân cân đối, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tuân thủ theo nguyên tắc "bốn đúng", an toàn và hiệu quả. Hướng dẫn bà con nông dân áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào thực tế đồng ruộng như: 3 giảm - 3 tăng, 1 phải - 5 giảm, quản lý dịch hại tổng hợp IPM… Cán bộ tổ kinh tế kỹ thuật xã cùng với nông dân thường xuyên thăm đồng để kịp thời phát hiện, xử lý những bất thường, bất lợi trong sản xuất lúa.

Ông Đỗ Minh Nhựt, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kiên Giang cho biết, Sở chỉ đạo các đơn vị chức năng phối hợp với địa phương quản lý, thực hiện đúng lịch gieo sạ, hướng dẫn nông dân chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết, nhất là về lúa giống, biện pháp cải tạo mặn các cánh đồng vùng ven biển, tăng diện tích gieo trồng giống chất lượng cao gắn với sản xuất theo mô hình cánh đồng lớn, hợp tác, liên doanh liên kết, bao tiêu sản phẩm…

Ngành nông nghiệp tỉnh khuyến cáo bố trí cơ cấu nhóm giống lúa chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu như nhóm giống gạo thơm gồm Jasmine85, Đài thơm 8, OM4900, ST24,…; nhóm giống hạt dài, năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt, gồm: OM5451, GKG1, OM2517, OM6976,…; nhóm giống hạt tròn Japonica và nếp gồm: ĐS1, IR4625,... Diện tích sản xuất 3 nhóm giống lúa này chiếm hơn 85% tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh vụ Đông Xuân.

Ngành nông nghiệp tỉnh đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác theo dõi cập nhập thông tin về giá cả thị trường, dịch bệnh trên cây trồng, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo về diễn biến của thời tiết. Phối hợp chặt chẽ với Đài khí tượng thủy văn tỉnh và Trung ương để có dự báo, cảnh báo cụ thể tình trạng xâm nhập mặn, hạn hán, tình hình mưa lũ… Theo dõi, quản lý chặt chẽ dịch bệnh trên cây trồng ở từng khu vực để xây dựng các giải pháp ứng phó kịp thời linh hoạt và hiệu quả nhằm hạn chế đến mức tối thiểu về thiệt hại sản xuất.

Chi cục Thủy lợi tỉnh phối hợp với các địa phương vận hành tốt hệ thống cống điều tiết nước để phục vụ sản xuất; rà soát lại các hệ thống công trình cống, đập, nạo vét kênh mương trữ nước khi cần thiết; vận động nông dân nạo vét kênh mương, gia cố bờ bao, cống đập, chủ động bơm tát gieo sạ đồng loạt...

Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam

 

 

Khổ vì... gà  (30/09/2019)

Hơn 2 tháng nay, giá gà đột nhiên lao dốc không phanh, trong khi giá thức ăn chăn nuôi “yên vị” khiến người nuôi gà khốn đốn vì thua lỗ.

Đã vậy, đến thời điểm này nhiều đàn gà đã “quá lứa”, người nuôi muốn xuất bán nhưng do thị trường tiêu thụ chậm nên thương lái chẳng màng mua.

Ông Mai Văn Rõ, người có thâm niên trong nghề nuôi gà số lượng lớn ở thôn Tân Thịnh, xã Ân Tường Tây (huyện Hoài Ân, Bình Định), ngao ngán nhìn đàn gà 10.000 con của mình đã đến tuổi xuất chuồng nhưng hiện vẫn chưa bán được. Ông điện thoại mãi cho những thương lái là “bạn hàng ruột” nhưng họ cứ hẹn lần hẹn nữa không đến thu mua. Lý do họ đưa ra là thị trường tiêu thụ đang “đóng băng”, giờ đưa gà ra thì chỉ có “chết đứng” nên họ tạm hoãn những chuyến buôn.

“Hiện giá gà ta nuôi chuồng chỉ còn 40.000 – 41.000đ/kg, trong khi mấy tháng trước đây hơn 60.000đ/kg. Còn gà ta thả vườn, còn gọi là “gà đi bộ”, trước đây có giá 110.000 – 120.000đ thì hiện chỉ còn 70.000 -75.000đ/kg, mỗi loại gà mất đến mấy chục giá. Trong tháng 5 vừa qua, tôi xuất bán 23 tấn gà thì giá gà lúc ấy vẫn đứng ở mức hơn 60.000đ/kg, lại tiêu thụ rất mạnh. Giờ chỉ còn 10.000 con gà trong chuồng nhưng chẳng thương lái nào ngó ngàng”, ông Rõ than thở.

Nguyên nhân thảm cảnh “gà ế” theo ông Rõ là do “cung vượt cầu”. Vừa qua, dịch tả lợn châu Phi hoành hành đàn heo trên cả nước, bây giờ người chăn nuôi chỉ nghĩ đến con heo thôi đã “giật mình” chứ chưa nói đến chuyện thả nuôi lại. Thêm vào đó, hầu hết các địa phương chưa “bật đèn xanh” cho người chăn nuôi heo tái đàn, do đó con heo bị “thất sủng” toàn phần, vậy là họ chuyển sang nuôi gà. Đàn gà tăng đột biến là vì thế.

Bên cạnh đó, gà nhập khẩu ào tạ (còn gọi là gà đông lạnh) cũng là nguyên nhân dẫn tới thảm trạng gà nuôi trong nước bị “đứng hàng”. Anh Nguyễn Mạnh Huy (50 tuổi), chủ 1 trang trại gà số lượng lớn ở thôn Hòa Ninh, phường Nhơn Hưng (TX An Nhơn), bộc bạch: “Thời điểm gà ế, nóng ruột quá ngày nào tôi cũng đọc báo để theo dõi thị trường. Càng có nhiều thông tin lòng tôi càng như có lửa đốt".

Lý do, chỉ trong nửa đầu năm 2019 mà Việt Nam đã nhập khẩu đến gần 150.000 tấn thịt gà. Giá gà nhập khẩu lại rẻ mạt, ví như gà đông lạnh nhập từ Mỹ gồm cánh, đùi, chân và gà xay chỉ có giá từ 17.000 – 23.000đ/kg. Gía gà đông lạnh rẻ đến vậy thì gà mình nuôi cạnh tranh sao lại”.

Gà thương phẩm ở Bình Định chủ yếu được tiêu thụ tại Đà Nẵng, Thừa Thiên- Huế, Quảng Nam. Thế nhưng mấy tháng nay các thị trường nói trên đều “đóng băng” nên gà Bình Định “chết đứng” theo.

Chị Bùi Thị Huệ, thương lái chuyên thu mua gà Bình Định cung ứng cho thị trường Quảng Nam, cho hay: “Những năm trước đây, thường tháng 7 trong năm là tháng ế hàng nhất nhưng mỗi ngày tôi cũng đi 1 chuyến hàng 3.000 con gà ta mà tiêu thụ vẫn hết. Nay thi thoảng tôi mới đi 1 chuyến hàng 1.500 con nhưng tiêu thụ rất khó khăn, chủ yếu bán cho các quán ăn, nhà hàng có thương hiệu, chứ người tiêu dùng hầu hết đã chọn mua gà lạnh giá rẻ”.

Theo tính toán của chủ trang trại gà Nguyễn Mạnh Huy, với giá gà như hiện nay, cứ 1.000 con gà nuôi đúng 3 tháng xuất bán thì người nuôi lỗ 7 – 8 triệu đồng; nếu gà không tiêu thụ được, bị “cầm chuồng” đến 4 tháng mới bán được thì mức lỗ tăng gấp đôi.

Anh Huy tính toán cụ thể: Từ khi thả nuôi, sau 3 tháng, cứ 1.000 con gà sẽ ăn hết 170 bao cám là có thể xuất bán. Đến thời điểm này gà đã tăng trọng từ 1,8 đến 2 kg/con, đây là trọng lượng mà người tiêu dùng ưa chuộng nhất. Với giá bán hơn 60.000 đ/kg gà ta nuôi chuồng, thì với 1.000 con gà người nuôi sẽ có lãi từ 7 đến 12 - 13 triệu đồng.

Thế nhưng nếu gà không tiêu thụ được, sau 1 tháng “cầm chuồng” (từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 4), trong giai đoạn tăng trưởng này, mỗi ngày đàn gà 1.000 con sẽ ngốn thêm ít nhất 1 triệu đồng tiền thức ăn. Vị chi qua 1 tháng “cầm chuồng”, người nuôi sẽ mất thêm 30 triệu đồng tiền thức ăn cho 1.000 con gà.

“Gà nuôi từ tháng thứ 2 đến tháng thứ 3, giai đoạn này gà ăn 2,9kg thức ăn thì tăng trọng được 1kg. Nhưng từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 4, gà phải ăn 4kg thức ăn mới cho ra được 1kg gà. Trong giai đoạn này, dù gà ăn bình thường nhưng mức tăng trọng dừng lại. Thức ăn cứ “ngốn” mà không tăng trọng thêm, nên gà càng “cầm chuồng” càng lâu thì người nuôi càng lỗ nặng”, anh Huy chia sẻ.

“Giá thức ăn chăn nuôi không theo giá gà, mà theo giá nguyên liệu của thế giới nên hiện thức ăn cho gà vẫn đứng ở mức cao. Hiện loại thức ăn cho gà có giá thấp nhất cũng 250.000đ/bao (25kg), các loại khác cao hơn từ 10.000 – 15.000đ/bao. Thậm chí giá thức ăn chăn nuôi hiện cao hơn thời điểm năm 2016, bởi nó phải gánh thêm 5% thuế giá trị gia tăng. Chi phí đầu vào không giảm, trong khi giá gà đã thấp mà bán không ai mua, cho không ai rước”, anh Nguyễn Mạnh Huy bộc bạch.

Nguồn: Báo nông nghiệp Việt Nam

 

 

Thái Lan giảm nhập khẩu hạt tiêu Việt Nam  (30/09/2019)

Thị phần hạt tiêu Việt Nam trong tổng lượng nhập khẩu của Thái Lan giảm từ 84,5% trong 7 tháng đầu năm 2018 xuống 78,4% trong cùng giai đoạn năm 2019.

Cục Xuất nhập khẩu cho biết theo tính toán từ số liệu thống kê của Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), nhập khẩu hạt tiêu của Thái Lan trong 7 tháng đầu năm 2019 đạt 3.500 tấn, trị giá 20,13 triệu USD, tăng 2,5% về lượng, nhưng giảm 6% về trị giá so với 7 tháng đầu năm 2018.

Trong đó, Thái Lan nhập khẩu chủ yếu hạt tiêu đen và hạt tiêu trắng chưa nghiền hoặc chưa nghiền nát (mã HS 090411), chiếm 76,3% tổng lượng nhập khẩu trong 7 tháng đầu năm 2019.

Thái Lan tăng nhập khẩu hạt tiêu từ Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Mỹ, Lào, nhưng giảm nhập khẩu từ Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Nhật Bản, Campuchia.

Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn là nguồn cung hạt tiêu lớn nhất cho Thái Lan trong 7 tháng đầu năm 2019, đạt 2.760 tấn, trị giá 14,4 triệu USD, giảm 5% về lượng và 25,3% về trị giá so với cùng kì năm 2018.

Thị phần hạt tiêu Việt Nam trong tổng lượng nhập khẩu của Thái Lan giảm từ 84,5% trong 7 tháng đầu năm 2018, xuống 78,4% trong cùng giai đoạn năm 2019.

Trong 7 tháng đầu năm 2019, Thái Lan nhập khẩu từ Việt Nam chủ yếu là hạt tiêu đen và hạt tiêu trắng chưa nghiền hoặc chưa nghiền nát (mã HS 090411) với tỉ trọng chiếm 70,5% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hạt tiêu của Thái Lan, giảm 14,7% so với cùng kì năm 2018.

Nguồn: Kinh tế & Tiêu dùng