CỔNG THÔNG TIN SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG
nông nghiệp an giang
Điểm tin thị trường

Tin thị trường ngày 14/08/2018

09:00 14/08/2018

Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi tăng mạnh - Nông sản rớt giá kéo theo thị trường phân bón trầm lắng - Giá lợn hơi cao sẽ còn kéo dài vì nguồn cung hạn chế - Giá mít Thái nghịch vụ lên cao - Xuất khẩu gạo sôi động do nhu cầu thị trường tăng - An Giang: Tìm đầu ra cho đường thốt nốt Bảy Núi - Doanh nghiệp Trung Quốc tìm mua gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long.. - Giá heo hơi tăng kỷ lục, gấp đôi so với năm ngoái

 

Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi tăng mạnh (13/08/2018)

Trong 7 tháng qua, cả nước đã phải chi tới 2,2 tỷ USD để nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, trong đó riêng nhập ngô đã tốn hơn 1 tỷ USD. Nhập khẩu vật tư nhiều đã khiến thâm hụt thương mại của ngành chăn nuôi quá lớn, lên tới 1,9 tỷ USD. Cùng với biến động tỷ giá USD/VND, thực tế này đang ảnh hưởng bất lợi cho sản xuất nông nghiệp.

 

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trong 7 tháng đầu năm 2018, cả nước đã chi tới 17,83 tỷ USD để nhập khẩu vật tư nông nghiệp và nông lâm thủy sản, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, riêng nhóm mặt hàng phân bón ước tính khối lượng nhập khẩu trong tháng 7 đạt 235 nghìn tấn với giá trị 66 triệu USD.

 

Sức ép lên các doanh nghiệp nhập khẩu

Tỷ giá tăng liên tục từ giữa tháng 7 đến nay đang gây sức ép rất lớn với các doanh nghiệp nhập khẩu trong khi nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lại mừng. Giá hàng hóa, và các nguyên phụ liệu cho sản xuất và hàng hóa trong nước nhập khẩu dự báo sẽ tăng mạnh...

 

Nhóm mặt hàng nguyên liệu thức chăn nuôi chứng kiến sự tăng rất mạnh về giá trị kim ngạch nhập khẩu, lên tới 2,2 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm 2017. Ba thị trường nhập khẩu chính của nhóm mặt hàng này là Argentina, Hoa Kỳ  và Brazil, chiếm thị phần lần lượt là 32,9%, 16,2% và 14,5%.

 

Nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tăng mạnh ở nhiều thị trường: từ Brazil tăng gấp 4,2 lần, Hoa Kỳ tăng 90,7% và Trung Quốc tăng 47,4%.

 

Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 7/2018 đạt 314 nghìn tấn với giá trị 138 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị đậu tương nhập khẩu trong 7 tháng đạt 1,15 triệu tấn và 504 triệu USD, tăng 12,4% về khối lượng và tăng 13,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

 

Với mặt hàng ngô, ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 7/2018 đạt 333 nghìn tấn với giá trị đạt 72 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị ngô nhập khẩu trong 7 tháng đầu năm 2018 đạt 5,22 triệu tấn và giá trị lên tới 1,06 tỷ USD, tăng 23,3% về khối lượng và tăng 25% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

 

Đối với mặt hàng lúa mì, ước tính khối lượng nhập khẩu trong tháng 7/2018 đạt 363 nghìn tấn, tiêu tốn 85 triệu USD. Lũy kế khối lượng và giá trị lúa mì nhập khẩu trong 7 tháng đầu năm  đạt 3,13 triệu tấn và 743 triệu USD, tăng 2,2% về khối lượng và tăng 16,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Ba nguồn cung cấp lúa mì chính là Nga, Úc và Canada với thị phần lần lượt là 46,5%, 29,4% và 8,3%.

 

Việc tốn quá nhiều ngoại tệ để nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi đã khiến thâm hụt thương mại của ngành chăn nuôi ngày càng trầm trọng. Bởi, giá trị xuất khẩu nhóm các sản phẩm chăn nuôi vẫn rất thấp, chỉ đạt 44 triệu USD trong tháng 7/2018 ước đạt 44 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu nhóm hàng này 7 tháng đầu năm ước đạt 305 triệu USD, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2017. Hiện ngành chăn nuôi nhập siêu 1,9 tỷ USD.

 

Tác động từ tỷ giá USD/VND

Do ảnh hưởng từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung và Trung Quốc giảm giá đồng Nhân dân tệ, tỷ giá USD/VND đã tăng mạnh trong thời gian qua. Từ 3/8, tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới khi được cơ quan điều hành tăng 10 đồng so lên mức 22.676 đồng. Các ngân hàng cũng tăng giá bán USD từ 20-30 đồng.

 

Tại thị trường tự do, tỷ giá USD/VND được giao dịch ở mức 23.500 đồng ở chiều mua vào và 23.520 đồng ở chiều bán ra. Đây là những mức giá cao nhất từ trước đến nay.

 

Ông Phạm Đức Bình, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thức ăn Chăn nuôi Việt Nam cho hay, đồng USD tăng giá khiến chi phí nhập khẩu thức ăn chăn nuôi tăng và không còn cách nào khác, nhà máy buộc phải tăng giá bán cám.

 

Theo ông Bình, hiện giá lợn hơi cao, tới trên 55.000 đồng/kg, người nuôi có lãi, giá gà cũng tương đối nên việc nhà máy tăng giá cám chút ít cũng được thị trường chấp nhận.

 

Tuy nhiên, theo ông Bình, có thể giá cám chưa tăng ngay trên thị trường, bởi các doanh nghiệp sẽ cân đối với nguồn nguyên liệu tồn kho trước đó nhập về với giá rẻ hơn trước đó. Mặt khác, hiện trên thị trường, một số nguyên liệu thức ăn chăn nuôi như ngô, đậu nành... cũng có xu hướng giảm nên cũng đỡ ảnh hưởng.

 

Thị trường phân bón cũng đang biến động. Theo ông Vũ Duy Hải, Chủ tịch Công ty Cổ phần Vinacam - một doanh nghiệp nhập khẩu phân bón lớn cũng cho rằng, tỷ giá lên cao, đương nhiên nhập khẩu sẽ bất lợi. Lúc này giá phân bón thế giới đang cao, Việt Nam lại áp dụng thuế phòng vệ với DAP, phụ thu thêm 6% với urê, DAP...

 

Do vậy, với những mặt hàng trong nước sản xuất được như DAP, urê tới đây có thể lượng nhập khẩu sẽ giảm, còn với các mặt hàng trong nước chưa sản xuất được là kali, SA vẫn phải nhập khẩu, và người tiêu dùng sẽ phải chịu với mức giá cao hơn.

 

Bà Nguyễn Thị Tiêu, Giám đốc Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Hà Anh cũng cho rằng, USD cao giá so với tiền Việt sẽ đẩy giá phân bón lên theo dạng "nước nổi, thuyền nổi". Với tác động hiện nay, giá phân bón trên thị trường có thể tăng khoảng 200 đồng/kg trong thời gian tới.

 

Nhiều chuyên gia dự báo, trong nửa cuối năm 2018, tỷ giá USD/VND sẽ còn tiếp tục xu hướng tăng. Việc này tuy có lợi cho xuất khẩu, nhưng lại gây bất lợi cho nhập khẩu trong bối cảnh nhiều vật tư nông nghiệp vẫn lệ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu như hiện nay. Khi giá vật tư nông nghiệp tăng cao, sẽ gây bất lợi cho nông dân, người sản xuất nông nghiệp vì đẩy giá thành sản xuất nông sản tăng cao.

Nguồn: vneconomy

 

Nông sản rớt giá kéo theo thị trường phân bón trầm lắng (13/08/2018)

Giá bán nông sản liên tục xuống thấp nhưng giá phân bón lại tăng cao dẫn đến thị trường phân bón ngày càng trầm lắng.

 

Thời điểm này, nông dân tỉnh Đắk Lắk đang bón phân đợt 3 cho các loại cây trồng. Trong khi giá bán nông sản liên tục xuống thấp, giá phân bón lại tăng cao, việc đầu tư chăm sóc cây trồng cũng hạn chế, dẫn đến thị trường phân bón trầm lắng.

 

Bà Lê Thị Mộng Thu, chủ Đại lý phân bón Nguyên Nghĩa ở xã Pơng Drang, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk cho biết, hàng năm, cứ vào đầu mùa mưa, đại lý nhập về một lượng hàng khá lớn để phục vụ nhu cầu chăm sóc cây trồng ở địa phương.

 

Tuy nhiên năm nay, đã giữa mùa mưa, mức tiêu thụ rất dè dặt. Vào thời điểm này những năm trước, bình quân mỗi ngày đại lý bán ra 4 - 5 tấn phân bón các loại loại,  nhưng năm nay chỉ bán được 1 - 2 tấn mỗi ngày.

 

“Thị trường phân bón năm nay trầm lắng hơn so với mọi năm, lượng tiêu thụ giảm gần 50% so với cùng thời kỳ này năm ngoái. Sản lượng cũng như giá cà phê giảm nên người trồng cũng ít đầu tư hơn”, bà Thu cho biết.

 

Ế ẩm là tình trạng chung và dễ thấy của nhiều đại lý phân bón trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk hiện nay. Chị Lê Thị Kim Dung, chủ đại lý phân bón Dung Sáng, ở thôn Tân Lập, xã Pơng Drang, huyện Krông Búk cho biết, lượng phân bón tiêu thụ năm nay chỉ bằng 50% so với mọi năm. Khách đến mua cũng thưa thớt, không nhộn nhịp như những năm trước. Sức mua quá yếu khiến các đại lý không dám nhập thêm hàng về.

 

“Năm nay phân bón ế vì bà con trồng cà phê bỏ phân ít. Ngày trước mỗi năm 3 đợt nhưng năm nay người trồng cà phê chỉ bỏ phân bón 1 - 2 đợt”, chị Dung cho hay.

 

Sức mua trên thị trường giảm mạnh, trong khi đó, giá một số loại phân bón đang tăng nhẹ. Theo khảo sát, hiện giá phân bón đang tăng từ 5.000-20.000 đồng/bao (50kg) tùy loại. Cụ thể, Phân bón Âu Châu 16-8-18 có giá 450.000 đồng/bao, đã tăng 20.000 đồng so với đầu vụ; Urê Phú Mỹ tăng 15.000 đồng/ bao, hiện có giá 365.000 đồng/bao; Kali Liên xô bán ra có giá 340.000 đồng/bao, tăng 10.000 đồng.

 

Trong khi giá phân bón tăng cao, giá nông sản lại giảm mạnh, khiến nông dân không dám đầu tư cho cây trồng. Bà Vũ Thị Thi ở thôn 1, xã Hòa Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột cho biết, những năm trước đây, cứ vào mùa mưa gia đình mua khoảng 10 bao phân để về chăm sóc cho 1 ha cà phê trồng xen hồ tiêu. Nhưng năm nay, giá bán 2 loại sản phẩm này đều xuống thấp, trong khi giá phân bón lại tăng cao nên cắt giảm đầu tư chỉ còn một nửa.

 

“Ở các niên vụ trước, trung bình người trồng cà phê bón 1 bao cho 1 sào, 1 ha sẽ cần 10 bao mỗi đợt, mùa khô 1 đợt, mùa mưa 3 đợt. Năm nay sản lượng và giá cà phê hạ thấp nên người trồng bón phân ít đi, cà phê giảm thu nhập nếu đầu tư nhiều quá thì sẽ không có lãi”, bà Thi phân tích.

Nguồn: VOV-Tây Nguyên

 

Giá lợn hơi cao sẽ còn kéo dài vì nguồn cung hạn chế (13/08/2018)

Mức giá lợn hơi kéo dài khiến người chăn nuôi tái đàn ồ ạt dẫn đến tình trạng cung vượt cầu như năm 2017 có thể tái diễn.

 

Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), trong 10 ngày đầu tháng 8/2018, giá lợn hơi trong nước đạt mức cao kỷ lục trong nhiều năm. Tại một số tỉnh, thành ở miền Bắc, giá lợn hơi xuất chuồng có thời điểm chạm mốc 57.000 đồng/kg. Đây được xem là mức giá cao kỷ lục trong nhiều năm.

 

So với năm 2017, giá thịt lợn ở thời điểm này đã tăng gấp đôi. Tại miền Bắc, hiện giá lợn hơi đang được thu mua trong mức 52.000 - 55.500 đồng/kg; tại miền Trung, Tây Nguyên đạt khoảng 47.000 - 55.000 đồng; trong khi tại miền Nam giá lợn giao dịch trong ngưỡng 46.000 - 51.000 đồng/kg.

 

Tuy nhiên, theo nhận định của Cục Xuất nhập khẩu, nếu mức giá lợn hơi trên 55.000 đồng/kg kéo dài sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro, vì có thể khiến người chăn nuôi tái đàn ồ ạt khiến tình trạng cung vượt cầu như năm 2017 có thể tái diễn.

 

Cục này dự báo, tình hình chăn nuôi và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi từ nay tới cuối năm vẫn tốt. Kể từ cuối tháng 3/2018 đến nay, giá lợn tăng đã thúc đẩy hoạt động đầu tư tái đàn và nuôi thâm canh trở lại. Vì vậy, tình trạng thiếu hụt nguồn cung trên thị trường lợn hơi sẽ dần được cải thiện trong các tháng cuối năm 2018.

 

Tuy nhiên, giá thịt lợn trong nước vẫn ở mức cao trong một vài tháng tới và có thể sẽ phải đối mặt với cạnh tranh gia tăng từ thịt nhập khẩu. Do đó, ngành chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn, cần tiếp tục cải tiến kỹ thuật, giảm giá thành để đảm bảo cạnh tranh với thịt nhập khẩu, và nâng cao chất lượng để hướng đến xuất khẩu.

 

Theo số liệu ước tính của Tổng cục Thống kê, tính đến tháng 7/2018, giá lợn hơi ổn định ở mức cao, tuy nhiên nhiều hộ chăn nuôi vẫn thận trọng trong việc tăng đàn. Ước tính đến hết tháng 7/2018, tổng đàn lợn cả nước giảm 2,8% so với cùng thời điểm năm 2017.

 

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tháng 7/2018, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi ước đạt 44 triệu USD, đưa kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 7 tháng đầu năm 2018 ước đạt 305 triệu USD, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2017.

Nguồn: VOV.VN

 

Giá mít Thái nghịch vụ lên cao (13/08/2018)

Người dân trồng mít rất phấn khởi vì giá mít được các thương lái thu mua tại vườn giá 45.000 đồng/kg...

 

Hiện nay đang vào mùa mít nghịch vụ, tại các vùng trồng vùng mít thái ở Đồng Bằng sông Cửu Long như Hậu Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang..., người dân trồng mít rất phấn khởi vì giá mít được các thương lái thu mua tại vườn giá 45.000 đồng/kg, tăng lên rất nhiều sau thời gian dài mít giảm sâu.

 

Tuy nhiên giá bán cây giống không tăng, nguyên nhân theo các thương lái cho biết, do mít lên giá cao khoảng 2 - 3 năm nay nên người dân đổ xô trồng mít khiến cây giống hút hàng cục bộ. Nhiều hộ dân ở các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long làm cây giống khiến lượng cây giống còn tồn đọng tại các hộ dân rất nhiều, hiện ước khoảng 2 triệu cây nên giá bán cây giống hầu như không tăng. Giá bán mỗi cây giống tùy chỗ tại vườn dân khoảng 6.000 - 10.000 đồng, tại đại lý khoảng 15.000 - 16.000 đồng.

Nguồn: nongnghiep.vn

 

Xuất khẩu gạo sôi động do nhu cầu thị trường tăng (12/08/2018)

Xuất khẩu gạo những tháng cuối năm 2018 được dự báo tiếp tục sôi động khi nhu cầu của thị trường đang tăng cao, đặc biệt từ những thị trường truyền thống. Dự báo từ nay đến hết năm, sản lượng gạo của Việt Nam sẽ tăng mạnh, đủ đáp ứng nhu cầu cao của thị trường.

 

Tín hiệu tốt từ thị trường truyền thống

Theo báo cáo của Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp-PTNT), khối lượng xuất khẩu gạo tháng 7.2018 ước đạt 382.000 tấn, trị giá 195 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 7 tháng đầu năm 2018 ước đạt 3,9 triệu tấn với kim ngạch gần 2 tỷ USD, tăng 12,2% về khối lượng và tăng 29,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

 

Trung Quốc, Indonesia, Philippines vẫn là 3 thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam. Các thị trường có giá trị xuất khẩu tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2017 là Indonesia, Philippines và Bờ Biển Ngà.

Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản dự báo, thị trường lúa gạo trong nước sẽ sôi động vào các tháng cuối năm do nhu cầu tiêu thụ tăng từ các thị trường nhập khẩu. Về cơ cấu gạo xuất khẩu, trong 6 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu gạo trắng 5% tấm đạt 550,4 triệu USD, chiếm tỷ lệ cao nhất 30,8%.

 

Các loại gạo thơm có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 2 với giá trị 472,6 triệu USD, chiếm tỷ lệ 26,5%, thị trường tiêu thụ chủ yếu là Trung Quốc, Ghana và Iraq. Gạo nếp đứng thứ 4 sau gạo trắng 15% tấm với giá trị xuất khẩu 249,3 triệu USD, chiếm tỷ lệ 13,9%. Trung Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ gạo nếp lớn nhất với thị phần 81,6%.

 

Ngoài ra, xuất khẩu gạo cũng bị ảnh hưởng do Trung Quốc tăng cường kiểm soát nhập khẩu và nâng cao tiêu chuẩn về kiểm dịch thực vật với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Qua phân tích diễn biến thị trường, dự báo xuất khẩu gạo Việt Nam trong nửa cuối năm 2018 có dấu hiệu tích cực từ thị trường Philippines với nhu cầu nhập 500.000 tấn gạo vào tháng 12.

 

Giá gạo xuất khẩu của Ấn Độ sẽ có khả năng cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh như Việt Nam hay Thái Lan do Chính phủ Ấn Độ vừa công bố nâng giá mua gạo từ nông dân lên 13% so với cùng kỳ năm ngoái bắt đầu từ vụ mùa hiện tại. Nhu cầu nhập khẩu của Iraq trong các tháng tiếp theo sẽ tăng do nước này đang phải cắt giảm diện tích canh tác lúa để đối phó với tình trạng thiếu nước.

 

Ngoài ra, các nước châu Phi vẫn có nhu cầu nhập khẩu gạo để đáp ứng nhu cầu nội địa ngày càng cao. Đây là những cơ hội cho xuất khẩu gạo của Việt Nam.

 

Tuy nhiên, ngành gạo cũng sẽ đối mặt nhiều khó khăn khi muốn tăng xuất khẩu do thị trường lớn nhất là Trung Quốc tăng thuế nhập khẩu và tăng cường kiểm soát chất lượng. Đồng thời giá gạo cũng sẽ khó đạt được mức cao do đồng USD tăng giá gây sức ép lên giá xuất khẩu.

 

Thị trường sẽ đón nhận thêm 23,3 triệu tấn

Theo ghi nhận của Bộ Nông nghiệp-PTNT, trong tháng 7 nhu cầu gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu giảm do các doanh nghiệp đã hoàn tất các hợp đồng xuất khẩu cho Indonesia và Philippines. Trong khi đó, nguồn cung trong nước tăng từ vụ hè thu khiến giá gạo trắng 5% tấm còn 385 USD/ tấn, giảm 14,4% so với tháng trước.

 

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa tươi IR50405 đạt bình quân 5.000 đồng/kg, giá lúa khô IR50405 bình quân 6.000 đồng/kg, thấp hơn 100 – 200 đồng/kg so với cùng kỳ tháng trước. Giá lúa Jasmine và lúa thơm cũng giảm xuống còn 6.300 đồng/kg với lúa khô và 5.600 đồng với lúa tươi, thấp hơn khoảng 100 – 200 đồng so với tháng trước. Tuy nhiên, giá lúa các loại vẫn cao hơn từ 400 – 600 đồng/kg so với cùng thời điểm năm 2017.

 

Đề cập đến giá lúa gạo trong thời gian qua, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp-PTNT Hà Công Tuấn cho biết, giá gạo Việt xuất khẩu ngày càng cải thiện nhờ tỷ lệ gạo cao cấp và gạo thơm xuất khẩu ngày càng nhiều, chiếm đến 80%. Để đạt được thành tựu này, ông Tuấn cho hay, ngành gạo đã có sự chuyển đổi cơ cấu giống.

 

Cụ thể, ở miền Nam, cơ cấu giống gạo chất lượng cao và gạo nếp hiện chiếm tới 80%, gạo thường giảm dần và còn rất ít. Ở miền Bắc, cơ cấu giống chất lượng cao cũng đạt 43%, tăng 7% so với trước kia.

 

Thông tin từ Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp-PTNT) cho hay, từ nay đến cuối năm, ngành còn thu hoạch thêm 3 vụ lúa. Nếu điều kiện thời tiết không bất thường, có khả năng sản lượng lúa đạt 23,3 triệu tấn, nâng sản lượng lúa cả năm lên 43,9 triệu tấn, tăng ít nhất 1,2 triệu tấn so với năm 2017.

 

Ngành lúa gạo đang không ngừng nỗ lực để nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm.

 

Theo ông Nguyễn Hồng Sơn - Cục trưởng Cục Trồng trọt, ngành sẽ tăng cường sử dụng giống tốt, giống chất lượng cao phù hợp với vùng sinh thái kết hợp với quy trình thâm canh tốt, ứng dụng khoa học công nghệ, áp dụng cơ giới hóa để giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng, tăng nhanh giá trị và khả năng cạnh tranh của từng sản phẩm.

Nguồn: Dân Việt

 

An Giang: Tìm đầu ra cho đường thốt nốt Bảy Núi (10/08/2018)                                               

Ban Quản lý và Điều hành dự án “Nâng cao lợi ích từ sản xuất và tiêu thụ đường thốt nốt cho đồng bào Khmer tỉnh An Giang” tại 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên đã tổ chức Hội nghị sơ kết năm thứ 2 thực hiện dự án.

 

Trong thời gian thực hiện, dự án “Nâng cao lợi ích từ sản xuất và tiêu thụ đường thốt nốt cho đồng bào Khmer tỉnh An Giang” đã thu được những kết quả khả quan. Nhiều hoạt động hỗ trợ, góp phần nâng cao chất lượng của sản phẩm truyền thống vùng Bảy Núi đã được thực hiện với mục tiêu hướng đến lợi ích lâu dài cho các hộ tham gia.

 

Trước tiên là thay đổi nhận thức của đồng bào Khmer về quy trình sản xuất đường thốt nốt theo hướng đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Hỗ trợ vốn để bà con trang bị dụng cụ nấu đường và tiếp cận với đầu ra ổn định. Ngoài ra, học viên còn được thông tin về mục tiêu, hoạt động của dự án và sự cần thiết phải thành lập tổ hợp tác giúp nhau trong sản xuất.

 

Trong năm đầu tiên thực hiện dự án, Hội Nông dân tỉnh đã hỗ trợ nguồn vốn 3,5 triệu đồng/hộ để cải tiến, trang bị lò nấu đường đạt chuẩn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai dự án trong những năm tiếp theo. Từ hỗ trợ của dự án, các hộ đã có sự thay đổi rõ rệt trong sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Bản thân mỗi hộ đều đảm bảo sản xuất theo quy trình mà dự án đề ra, có bảng quy trình sản xuất treo tại nơi sản xuất. Thu nhập từng hộ tăng lên từ 1.000 - 2.000 đồng/kg so ban đầu, có hộ tăng thêm 200.000 - 300.000 đồng/ tháng. Sản phẩm làm ra được cơ sở ký kết với dự án tiêu thụ theo giá thị trường nên bà con rất phấn khởi.

 

Trên cơ sở những kết quả đạt được trong năm thứ nhất thực hiện dự án, sang năm thứ hai, Ban Điều hành & Quản lý dự án tiếp tục duy trì, hỗ trợ 4 xã của năm thứ nhất và chọn thêm 4 xã mới tham gia dự án theo lộ trình của nhà tài trợ (3 năm 10 xã) để tập huấn và hỗ trợ đầu tư. Trong năm thứ 2 thực hiện dự án, Hội Nông dân phối hợp các địa phương tiếp tục triển khai các bước hỗ trợ những hộ tham gia. Ban Điều hành & Quản lý dự án đã thành lập tổ hợp tác sản xuất đường thốt nốt thông qua việc chọn lựa mỗi xã 1 hộ có điều kiện, nhiệt tình làm tổ trưởng để tập trung máy móc, phương tiện sản xuất, tổ chức liên kết tìm đầu ra cho sản phẩm.

 

Về lâu dài, đây là bước đi cần thiết để có điều kiện tập trung đầu mối thu mua, chế biến các sản phẩm từ nước thốt nốt, đồng thời đại diện Hội Nông dân giới thiệu, quảng bá, ký kết hợp đồng tiêu thụ đường thốt nốt. Hội Nông dân tỉnh còn tạo điều kiện cho các hộ đi học hỏi kinh nghiệm, công nghệ sản xuất ở các tỉnh có điều kiện gần giống với An Giang.

 

Trong năm thứ 2, dự án đã tổ chức 4 lớp tập huấn về quy trình sản xuất và chế biến đường thốt nốt cho 80 học viên tham dự. Qua lớp tập huấn, các học viên được trang bị thêm một số kiến thức mới về sản xuất, chế biến đường thốt nốt theo hướng an toàn vệ sinh thực phẩm; kỹ thuật để cây thốt nốt cho ra số lượng nước tối đa. Dự án cùng với Hội Nông dân các xã hướng dẫn và hỗ trợ thành lập 4 Tổ hợp tác sản xuất theo Nghị định 151 của Chính Phủ với 80 thành viên. Bên cạnh đó, Ban Quản lý và Điều hành dự án đã tìm hiểu và liên hệ đặt cơ sở thiết kế 82 máy đánh đường cho 82 hộ được chọn của 8 xã và đã trang bị thêm cho một hộ trong năm thứ 2 của dự án. Đặc biệt, Ban Quản lý và Điều hành dự án đã thực hiện đăng ký nhãn hiệu “đường thốt nốt Bảy Núi” cho sản phẩm của bà con tham gia dự án. Hiện nay, sản phẩm đã có bao bì, nhãn mác và được giới thiệu, quảng bá tại nhiều hội chợ, sự kiện trong và ngoài tỉnh. Đây là hướng đi vững chắc để phát triển sản phẩm đặc sản của đồng Khmer vùng Bảy Núi; là tiền đề để quảng bá sản phẩm, kết nối đầu ra song song với việc cập nhật những kiến thức cần thiết để mang đến những sản phẩm đường thốt nốt chất lượng cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cung cấp ra thị trường.

Nguồn: Báo Công Thương

 

Doanh nghiệp Trung Quốc tìm mua gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long (09/08/2018)

Ngày 8/8, tại TP Cần Thơ, đoàn doanh nghiệp Trung Quốc (TQ) chuyên kinh doanh lương thực thuộc Hiệp hội lương thực TQ đến làm việc, tìm cơ hội thương mại với các doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo trong vùng.

 

Theo Sở Công thương Cần Thơ, hiện nay có 4 doanh nghiệp ở Cần Thơ được xuất khẩu gạo trực tiếp vào TQ. Trong thời gian tới số doanh nghiệp xuất khẩu gạo trực tiếp sang TQ có thể tăng lên, nhất là khi cơ hội kinh doanh tốt hơn.

 

Ông Đào Việt Anh, Tham tán thương mại của Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc cho rằng, trong năm 2018 xuất khẩu gạo sang TQ sẽ khó duy trì được đà tăng trưởng như năm trước là do từ 1/7 TQ có sự điều chỉnh chính sách tăng thuế nhập khẩu gạo. Bên cạnh đó gạo Việt Nam gặp cạnh tranh với các nước cùng xuất khẩu gạo vào TQ. Do đó để đẩy mạnh xuất khẩu gạo vào thị trường này cần phải đảm bảo chất lượng gạo phù hợp với thỏa thuận về kiểm dịch đối với sản phẩm gạo nhập khẩu được ký kết giữa Việt Nam và TQ.

 

Theo Bộ Nông nghiệp-PTNT, trong 6 tháng đầu năm 2018, TQ là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam với trên 891.000 tấn, chiếm 26,8% thị phần xuất khẩu gạo.

Nguồn: nongnghiep.vn

 

Giá heo hơi tăng kỷ lục, gấp đôi so với năm ngoái (09/08/2018)

Tại một số tỉnh, thành ở miền Bắc, giá lợn hơi xuất chuồng chạm mốc 56.000 đồng/kg. Giá này đã tăng 200% so với cùng kỳ năm 2017 và đây được xem là mức giá cao kỷ lục trong nhiều năm qua.

 

Tăng mạnh do mất cân đối cung cầu

Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), trong tháng 7/2018, giá heo hơi trong nước có xu hướng tăng, với mức tăng so với tháng trước từ 3.000 - 5.000 đồng/kg.

 

Giá heo tăng cao không đồng đều tại các địa phương và tùy thuộc chất lượng heo, như tại: Phổ Yên (Thái Nguyên), Hải Hậu (Nam Định), Khoái Châu (Hưng Yên), Ứng Hòa (Hà Nội), Hải Dương, Quảng Ninh... đạt mức cao nhất là 56.000 đồng/kg đối với heo chất lượng cao, có trọng lượng trên 100 kg/con.

 

Còn tại các tỉnh miền Nam giá heo hơi thấp heo và mức tăng không nhiều. Tại tỉnh Bạc Liêu giá 46.000 đồng/kg; tại Tiền Giang giá từ 47.000 - 48.000 đồng/kg; tại Đồng Nai giá khoảng 50.000 đồng/kg.

 

Tại một số chợ cóc, chợ dân sinh ở Hà Nội, giá thịt heo cũng tăng mạnh. Chị Xuyện, bán thịt heo ở chợ Trại Găng (Hà Nội) cho biết, trước đây thịt rọi (ba chỉ) được bán với giá 70.000 đồng/kg thì nay có giá tới 100.000 đồng/kg. Sườn thăn trước đây 80.000 đồng/kg thì nay được bán với giá trên 110.000 đồng/kg... Như vậy, giá thịt heo đã tăng trung bình hơn 30% trong vòng vài tháng qua.

 

Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, giá heo hơi trong tháng 7/2018 tăng là do mất cân đối cung cầu cục bộ ở một số địa phương, riêng giá tăng cao kỷ lục ở miền Bắc còn do thời tiết mưa lũ đã ảnh hưởng tới việc giết mổ, cũng như hoạt động vận chuyển thịt heo đến nơi tiêu thụ.

 

Việc mất cân đối cung cầu thịt lợn trong tháng 8 và các tháng cuối năm 2018 sẽ dần được khắc phục, do từ tháng 3 giá bán tăng theo hướng có lợi cho người chăn nuôi, nông dân đã đầu tư trở lại cho tái đàn và nuôi thâm canh. Tuy nhiên, giá thịt lợn trong nước còn cao một vài tháng tới có thể sẽ phải cạnh tranh với thịt heo nhập khẩu từ các nước vốn có thế mạnh về chăn nuôi như Mỹ, Australia...

 

Qua tìm hiểu, giá thịt lợn đang ở mức khá cao do nguồn cung chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường. Bên cạnh đó còn do khủng hoảng thừa, cung vượt cầu trong những tháng đầu năm 2017 khiến người chăn nuôi thua lỗ nặng, kéo dài, dẫn đến người nuôi bỏ chuồng không tiếp tục chăn nuôi nữa, đặc biệt là các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ (số lượng lợn dưới 20 - 30 con) đã bỏ chuyển đổi sang ngành nghề khác.

 

Bộ Nông nghiệp đề nghị doanh nghiệp giảm giá bán lợn hơi

Trước tình hình trên, Bộ Nông nghiệp&PTNT đã có văn bản gửi các địa phương và một số doanh nghiệp lớn đề nghị tham gia bình ổn giá. Hiện đã có một số doanh nghiệp đã thực hiện tích cực như: Dabaco, CP bán giá thấp hơn thị trường 1.000 - 2.000 đồng/kg.

 

Ông Nguyễn Xuân Dương, Quyền Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp&PTNT) cho rằng, nếu giá thịt lợn hơi nằm ở mức giá 50.000 - 51.000 đồng/kg là bình thường. Với giá này người chăn nuôi heo sẽ có lãi khá bù đắp năm 2017 bị thua lỗ nặng do giá sụt giảm kỉ lục.

 

Còn mức giá 55.000 - 56.000 đồng chỉ là cá biệt, mang tính cục bộ ở các hộ thu mua giết mổ nhỏ lẻ. Tuy nhiên, nếu để giá heo hơi tăng lên mức 55.000 - 56.000 đồng/kg sẽ gây tác động tiêu cực, thậm chí có thể gây bất ổn tới ngành chăn nuôi. Khi đó, sẽ tạo điều kiện để thịt heo nước ngoài thẩm lậu vào Việt Nam, thịt lợn đông lạnh sẽ ồ ạt nhập khẩu về, ảnh hưởng tiêu cực đến thị phần của ngành Chăn nuôi ngay trên “sân nhà”.

 

Thêm nữa, giá thịt heo hơi tăng quá cao sẽ “kích thích” chăn nuôi heo ồ ạt phát triển trở lại, sẽ gây những hệ lụy xấu cho ngành Chăn nuôi trong thời gian tới. Vì vậy, các doanh nghiệp, trang trại lớn cần tham gia bình ổn thị trường, kéo giảm giá thịt heo hơi xuống mức giá 45.000 - 50.000 đồng/kg là phù hợp.

Nguồn: Báo Tin Tức