CỔNG THÔNG TIN SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG
nông nghiệp an giang
Điểm tin thị trường

Tin thị trường ngày 8/8/2019

09:00 08/08/2019

Nghịch lý rau quả: Xuất khó, nhập dễ! - Giá heo hơi: Tin vui cho người chăn nuôi, nhiều nơi cùng tăng giá - Giá lúa gạo dự kiến phục hồi trong thời gian tới nhờ nhu cầu cải thiện - Đến hẹn lại lên, na bở được dịp ‘đắt như tôm tươi’ - Giá tiêu giảm 500 đồng/kg tại Bình Phước và Đồng Nai.

 

Nghịch lý rau quả: Xuất khó, nhập dễ!  (08/08/2019)

6 tháng đầu năm nay, xuất khẩu rau quả chỉ tăng trưởng khiêm tốn, trong khi nhập khẩu lại tăng mạnh.

Ngoài nhu cầu tăng lên của người tiêu dùng với rau quả nhập khẩu, còn có nguyên nhân không nhỏ đến từ việc rau quả Trung Quốc vẫn đang khá dễ dàng để vào Việt Nam qua đường tiểu ngạch.

Theo Tổng cục Hải quan, trong nửa đầu năm nay, xuất khẩu rau quả cả nước đạt 2,04 tỷ USD, tăng 2,5% so với cùng kỳ 2018. Trong khi đó, ở chiều ngược lại, nhập khẩu rau quả trong 6 tháng đầu năm đạt 990,23 triệu USD, tăng tới 34,6%.

Xuất khẩu rau quả chỉ tăng trưởng khiêm tốn, chủ yếu do gặp khó khăn ở thị trường Trung Quốc. Trong 6 tháng đầu năm, trong khi nhiều thị trường quan trọng như EU, Mỹ, Hàn Quốc… tăng trưởng khá, thì giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc lại giảm nhẹ. Cụ thể, giá trị rau quả xuất khẩu sang Trung Quốc là 1,46 tỷ USD, giảm 1% so với cùng kỳ 2018. Do Trung Quốc vẫn đang chiếm tới trên 70% giá trị xuất khẩu rau quả của Việt Nam, nên dù chỉ giảm rất nhẹ, cũng đã ảnh hưởng lớn tới tăng trưởng chung của xuất khẩu rau quả.

Về những khó khăn khi xuất khẩu rau quả sang thị trường Trung Quốc, chỉ xin nhắc lại là do nước này đã thắt chặt nhập khẩu biên mậu, đồng thời tăng thêm những yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, kiểm dịch thực vật… đối với rau quả nhập khẩu từ Việt Nam. Do bị siết đường biên mậu, nhiều mặt hàng rau quả tươi của Việt Nam, lâu nay vẫn đi sang Trung Quốc qua con đường này, đã gặp phải khó khăn lớn. Đồng thời nhiều doanh nghiệp và nông dân chưa kịp thích ứng với những yêu cầu mới của hải quan Trung Quốc về truy xuất nguồn gốc, bao bì, nhãn mác… Đó là những nguyên nhân quan trọng làm giảm nhẹ giá trị xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc.

Nhưng điều đáng nói là trong khi xuất khẩu rau quả Việt Nam bị siết chặt đường tiểu ngạch sang Trung Quốc, thì một lượng không nhỏ rau quả Trung Quốc lại vẫn đang đi đường tiểu ngạch để sang Việt Nam. 6 tháng đầu năm nay, nếu như xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc giảm nhẹ như đã nói ở trên, thì nhập khẩu rau quả từ Trung Quốc lại tăng tới 54% và đạt khoảng 220 triệu USD.

Theo Bộ Công Thương, bên cạnh việc xuất khẩu sang Việt Nam qua đường chính ngạch, một lượng lớn rau quả Trung Quốc đang nhập khẩu vào Việt Nam qua đường tiểu ngạch, tập trung ở các chợ đầu mối rồi đưa về các chợ lẻ ở các tỉnh. Do nhập khẩu tiểu ngạch, né tránh được thuế nhập khẩu, không phải mất các chi phí khác như kiểm dịch…, một lượng lớn rau quả Trung Quốc với giá rẻ đã và đang len lỏi và phủ sóng ngày càng rộng ở nhiều chợ vùng nông thôn nước ta.

Một điều đáng chú ý là nhiều chủng loại rau quả nhập khẩu mạnh từ Trung Quốc, đều đã được sản xuất đại trà ở Việt Nam từ lâu như bắp cải, cà rốt, xu hào, súp lơ, khoai tây… Điều này cho thấy, nhờ đi đường tiểu ngạch, không phải nộp thuế, một lượng không nhỏ rau quả của Trung Quốc khi vào Việt Nam, đã có lợi thế cạnh tranh lớn với các sản phẩm tương tự được sản xuất trong nước, nhờ giá rẻ.

Bên cạnh Trung Quốc, Thái Lan cũng là nguồn cung lớn đối với rau quả nhập khẩu vào Việt Nam. 6 tháng đầu năm nay, giá trị nhập khẩu rau quả từ Thái Lan đạt 408 triệu USD, tăng hơn 22% so với cùng kỳ 2018. Nhập khẩu từ Thái Lan chủ yếu là các loại trái cây như xoài, chôm chôm, sầu riêng, nhãn…

Và cũng đều là những loại trái cây mà Việt Nam có sản lượng lớn. Trái cây Thái Lan nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu qua đường chính ngạch, với thuế nhập khẩu là 0%.

Nhập khẩu trái cây từ Mỹ trong nửa đầu năm nay cũng tăng mạnh với giá trị đạt 116 triệu USD, tăng tới 70%. Thái Lan, Trung Quốc và Mỹ đang là 3 nguồn cung lớn nhất cho rau quả nhập khẩu vào Việt Nam.

Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam

 

 

Giá heo hơi: Tin vui cho người chăn nuôi, nhiều nơi cùng tăng giá  (08/08/2019)

Giá heo hơi tại nhiều nơi đang có tín hiệu khả quan khi không còn nơi nào có giá dưới 30.000 đồng/kg và giá heo một số tỉnh thành đã đạt trên mức 40.000 đồng/kg.

Giá heo hơi tại các tỉnh miền Nam:

Giá heo hơi tại miền Nam được giao dịch ở mức cao, từ 30.000 đồng/kg đến 35.000 đồng/kg.

Thủ phủ Đồng Nai đã có vùng bán heo được giá 33.000 đồng/kg – 35.000 đồng/kg, mức được xem là cao trong hơn 1 tháng qua.

Còn tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ, giá heo phục hồi, vượt trên mức 30.000 đồng/kg nữa, nhiều nơi như Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long… đồng loạt tăng từ 6.000 đồng/kg đến 7.000 đồng/kg, vươn lên mức 32.000 đồng/kg – 35.000 đồng/kg.

Đây là tín hiệu khả quan cho người nuôi heo sau chuỗi dài giá heo giảm, không ít hộ phải xuất chuồng sớm để bớt lỗ.

Giá heo hơi tại các tỉnh miền Trung:

Tại miền Trung, giá heo hơi bình quân đã lên mức 32.000-36.000 đồng/kg. Tại Quảng Trị giá heo hơi là 30.000-34.000 đồng/kg, Thừa Thiên-Huế 31.000-36.000 đồng/kg, Quảng Nam 31.000-35.000 đồng/kg.

Phía Bắc Trung Bộ giá heo hơi ở mức tốt khi Thanh Hóa, Nghệ An đang giữ được mức giá 40.000 đ/kg. Đây là các địa phương có mức giá tốt ổn định trong vài tuần qua.

Giá heo hơi tại các tỉnh miền Bắc:

Nhiều nơi tăng lên mức 44.000-4.500 đồng/kg. Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang cùng tăng 2.000 đồng/kg lần lượt lên mức 42.000 đồng/kg, 41.000 đồng/kg và 43.000 đồng/kg.

Vĩnh Phúc, Hà Nam, Nam Định tăng nhẹ hơn 1.000 đồng/kg nhưng cũng đã đạt mốc 41.000 đồng/kg – 42.000 đồng/kg. Thái Bình có những đàn heo đã bán được giá tới 45.000 đồng/kg.

Giá thịt heo tại thị trường lẻ:

Tại chợ Gò Vấp, thịt đùi heo được bán với giá 100.000 đồng/kg, xương heo: 80.000 đồng/kg, sườn heo: 150.000 đồng/kg, đuôi heo: 150.000 đồng/kg.

Tại chợ Thị Nghè (quận Bình Thạnh), ba rọi heo giá 125.000 đồng/kg, tim heo 150.000 đồng/kg.

Nguồn: Voh.com.vn

 

 

Giá lúa gạo dự kiến phục hồi trong thời gian tới nhờ nhu cầu cải thiện  (07/08/2019)

Giá lúa, gạo tại khu vực ĐBSCL có xu hướng tăng nhẹ về cuối tháng, đặc biệt tại An Giang tăng khá mạnh.

Báo cáo từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) cho biết khối lượng xuất khẩu gạo tháng 7 dự báo ở mức 651.000 tấn, với giá trị ước đạt 285 triệu USD.

Theo đó, khối lượng xuất khẩu gạo 7 tháng đầu năm 2019 ước tăng 2,1% so với cùng kì năm ngoái lên 4,01 triệu tấn, nhưng giá trị xuất khẩu giảm 14,3% còn 1,73 tỉ USD.

Tính trong 6 tháng đầu năm, Philippines đứng vị trí thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam với 33,7% thị phần và các thị trường có giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh là Bờ Biển Ngà (tăng 67,4%), Hong Kong (tăng 55,9%) và Arab Saudi (tăng 38,1).

Giá gạo xuất khẩu bình quân 6 tháng đầu năm 2019 đạt 431 USD/tấn, giảm 15% so với cùng kì năm 2018.

Về chủng loại xuất khẩu, trong 6 tháng đầu năm 2019, giá trị xuất khẩu gạo trắng chiếm 46,8% tổng kim ngạch; gạo Jasmine và gạo thơm chiếm 38,3%; gạo nếp chiếm 8,4% và gạo Japonica, gạo giống Nhật chiếm 5,9%.

Về gạo nếp, thị trường xuất khẩu lớn là Trung Quốc (52,9%); Phillipines (19,6%).

Trên thị trường thế giới, giá gạo xuất khẩu tại châu Á biến động trái chiều trong tháng qua. Dự báo thời tiết đang chuyển hướng tích cực hơn dù thu hoạch sẽ muộn hơn.

Gạo tiêu chuẩn 5% tấm Thái Lan giảm từ 413 USD/tấn xuống còn 402 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm Ấn Độ tăng từ 374 USD/tấn lên 377 USD/tấn, gạo 5% tấm Việt Nam tăng từ 335 USD/tấn lên 350 USD/tấn.

Trong khi đó, giá lúa, gạo tại khu vực ĐBSCL có xu hướng tăng nhẹ về cuối tháng, đặc biệt tại An Giang tăng khá mạnh.

Nhu cầu trên thế giới vẫn trầm lắng, đặc biệt là khu vực châu Á (Trung Quốc và Indonesia chưa có nhiều tín hiệu) làm thị thường trở nên ảm đạm hơn.

Nguồn: Kinh tế & Tiêu dùng

 

 

Đến hẹn lại lên, na bở được dịp ‘đắt như tôm tươi’  (07/08/2019)

Tưởng là thứ na “thất sủng” không được đánh giá cao, thế nhưng vài năm trở lại đây, na bở lại được nhiều người chọn mua nhất là người dân tại Hà Nội. Vậy nên, giá na bở cũng đắt đỏ lên đến 200.000 đồng một kg.

Na bở được coi là loại na không ngon như na dai. Thế nên, nhiều năm nay na bở không được trồng nhiều mà thay vào đó là na dai. Nhưng độ 2 năm trở lại đây, chính vì na bở không được trồng nhiều nên hiếm có và giá đắt đỏ. Người dân Hà Nội bỗng nhiên trở lại “phong trào” ăn na bở. Bởi lẽ đó mà na bở được các thương lái lùng sục thu mua khắp nơi và tại thị trường Hà Nội, giá na bở lên đến 200.000 đồng một kg trong khi đó gia na dai chỉ dao động từ 40.000 đến 70.000 đồng một kg.

Theo bà Nguyễn Thị Ánh (Trung Tự - Đống Đa – Hà Nội) thì cứ mỗi mùa na bà lại lùng sục khắp các chợ để tìm mua na bở. Bởi, trước đây gia đình bà có một cây na bở do người ông quá cố trồng sau đó thì phải chặt bỏ làm nhà. Tuy vị na bở không ngon như na dai nhưng mỗi năm đến mùa na bà đều phải tìm lại vị na bở để ăn và tưởng nhớ đến người ông đã mất của mình.

“Trước đây, hầu hết các nhà ở quê đều có ít nhất một cây na. Nhưng na dai là rất hiếm. Lúc đó nhiều na bở, na bở gần như không mất mùa, chín sớm và giá na bở rất thấp. Thậm chí, nhiều người còn cho nhau na bở. Sau đó, gần như mọi người chặt cây na bở đó đi và thay thế vào loại cây khác có kinh tế hơn. Nên hiện giờ na bở hiếm và tôi phải mua 200.000 đồng một kg”, bà Ánh thông tin.

Không như bà Ánh mua na bở về ăn để nhớ lại hương vị xưa mà nhiều người Hà thành chỉ nghe nói đến loại na bở còn chưa được thử bao giờ. Thế nên, khi bày bán na bở dù đắt đỏ ngang trái cây nhập khẩu thì nhiều người vẫn cắn răng mua về thử cho biết vị.

Chị Nguyễn Thị Mai (Cống Vị - Ba Đình) cho biết, vì chị sinh ra và lớn lên ở Hà Nội nên chưa bao giờ biết đến vị na bở như thế nào. Thế nên khi đi làm thấy các đồng nghiệp mua na bở trên mạng xã hội chị cũng mua về ăn thử. Bởi chị nghĩ, chắc na bở có vị như thế nào đó nên mới đắt đỏ vậy.

“Tôi cũng vì tò mò mà bỏ ra 200.000 đồng mua na bở về ăn thử. Cũng nghe nói đây là loại quả hiếm nên giá mới đắt đỏ như vậy. Tuy nhiên khi ăn tôi thấy na bở không ngon như na dai và chắc tôi sẽ không nữa”, chị Mai cho biết.

Ghi nhận của PV, hiện đã vào mùa na. Na dai được bày bán tràn ngập chợ Hà Nội, giá dao động từ 30.000-70.000 đồng/kg tuỳ loại. Các chủ hàng cũng cho biết, nguồn cung na bở ở Lạng Sơn bây giờ siêu hiếm, na bở trên thị trường chủ yếu có nguồn gốc từ Hải Phòng hoặc vài huyện ngoại thành Hà Nội.

Chị Nguyễn Thị Mai, một tiểu thương bán na ở chợ Thành Công cho biết, hiện nay tại các chợ đầu mối na dai rất nhiều và chủ yếu là na dai Đồng Bành – Lạng Sơn. Tuy nhiên, giá na dai khá rẻ chỉ khoảng 30.000 đến 70.000 đồng một kg. Trong khi đó na bở có giá đắt hơn, nhập tại chợ đầu mối đã hơn 100.000 đồng một kg chưa kể đến muốn lấy nhiều không có.

“Na bở rất đắt. Tuy nhiên nhập về bao nhiêu bán hết bấy nhiêu. Với giá 200.000 đồng một kg đắt gấp nhiều lần na dai mà nhiều người vẫn bỏ tiền mua. Theo tôi, có thể là đây là loại na hiếm nên được nhiều người ưa chuộng”, chị Mai thông tin.

Không chỉ được người dân lùng lục tại các chợ mà na bở cũng là loại quả đang được nhiều người quan tâm trên các trang mua bán tại Facebook.

Nguồn: VietBao.vn

 

 

Giá tiêu giảm 500 đồng/kg tại Bình Phước và Đồng Nai  (07/08/2019)

Giá tiêu giảm tiếp 500 đồng/kg tại tại Bình Phước và Đồng Nai, còn các địa phương khác tại khu vực trồng tiêu trọng điểm Tây Nguyên và Miền Nam đi ngang.

Mức giá cao nhất 45.000 đồng/kg được ghi nhận ở Bà Rịa - Vũng Tàu, thấp nhất 43.000 đồng tại Đồng Nai. Cụ thể, giá tiêu tại Bình Phước hôm nay giảm 500 đồng/kg về mức 44.000 đồng/kg.

Giá tiêu tại Đông Nai cũng giảm 500 đồng/kg về ngưỡng 42.500 đồng/kg. Đây là mức giá thấp nhất tại các địa phương trọng điểm.

Trong khi đó, giá tiêu tại Đắk Nông (Gia Nghĩa), Đắk Lắk (Ea H'leo) ổn định ở mức 44.000 đồng/kg.

Giá tiêu tại các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hôm nay đứng yên ở ngưỡng 45.000 đồng/kg. Giá tiêu tại Gia Lai cũng  đi ngang ở mức 43.000 đồng/kg.

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, giá hạt tiêu giảm và ở mức thấp nhiều năm đã ảnh hưởng đến đời sống của người trồng hạt tiêu, dẫn đến việc đầu tư chăm sóc giảm, nhiều vườn cây trồng sinh trưởng kém. Mặc dù vậy, sản lượng hạt tiêu của Việt Nam vẫn tăng khá nhiều do năng suất chung vẫn tăng.

Cụ thể, tổng diện tích hạt tiêu của cả nước hiện là 145.447 ha, giảm khoảng 4.000ha so với năm 2018; năng suất 25,5 tạ/năm, tăng 1,2 tạ/ha, sản lượng khoảng 300 nghìn tấn, tăng 45 nghìn tấn so với năm 2018.

Trong bối cảnh giá hạt tiêu toàn cầu liên tục giảm và duy trì ở mức thấp như hiện nay, chỉ có thể sản xuất hạt tiêu sạch, kiểm soát được vấn đề an toàn thực phẩm thì mới giúp ngành hạt tiêu Việt Nam phát triển bền vững và tham gia vào các thị trường khó tính. Sở dĩ giá bán hạt tiêu đạt chất lượng hữu cơ cao là vì trên thế giới sản lượng mặt hàng này chiếm chưa tới 2%. Sản phẩm hạt tiêu đạt tiêu chuẩn hữu cơ có giá bán cao hơn giá xô thị trường từ 2-6 lần nhưng vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu thị trường.

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu hạt tiêu trong 15 ngày đầu tháng 7/2019 đạt 11,09 nghìn tấn, trị giá 28,2 triệu USD, tăng 6,6% về lượng, nhưng giảm 11,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/7/2019, xuất khẩu hạt tiêu đạt 187,7 nghìn tấn, trị giá 479,8 triệu USD, tăng 32% về lượng, nhưng giảm 0,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Giá xuất khẩu trung bình hạt tiêu trong 15 ngày đầu tháng 7/2019 đạt 2.544 USD/tấn, tăng 3,8% so với mức giá xuất khẩu trung bình tháng 6/2019.

Khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 7 ước đạt 24 nghìn tấn, với giá trị đạt 62 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu 7 tháng đầu năm 2019 ước đạt 201 nghìn tấn, tương đương 514 triệu USD, tăng 32,5% về khối lượng nhưng giảm 0,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Giá tiêu xuất khẩu bình quân 6 tháng đầu năm 2019 đạt 2.557 USD/tấn, giảm 25,5% so với cùng kỳ năm 2018.

Hôm 7/8/2019 lúc 9h30, giờ Việt Nam, giá tiêu thế giới giao ngay tại sàn Kochi (Ấn Độ) giảm 195Rupi/tạ, tương đương 0,54%, về mức 35.620 Rupi/tạ. Giá tiêu giao tháng 6/2019 tăng 50 Rupi/tạ, tương đương 0,14%, lên mức  35.700Rupi/tạ. Giá hạt tiêu trên (sàn SMX - Singapore) tháng 9 vẫn không đổi, ở mức 6.500 USD/tấn.

Theo số liệu từ Tổng Cục Hải quan, trong nửa đầu năm 2019, Mỹ vẫn là thị trường lớn nhất của tiêu Việt Nam, chiếm 17,1% tổng kim ngạch xuất khẩu tiêu của Việt Nam. Tuy nhiên, thị phần của Mỹ và hầu hết các nước khác đều giảm so với cùng kỳ năm 2018, ngoại trừ thị trường Đức.

Mặc dù giá tiêu xuất khẩu đang trong xu hướng giảm, nhưng kim ngạch xuất khẩu tiêu của Việt Nam sang Đức vẫn tăng 7,9% trong 6 tháng đầu năm 2019 nhờ lượng xuất khẩu tăng tới 45,1%, góp phần nâng thị phần của thị trường này tăng từ 4,2% lên 4,6%.

Hiệp hội Hạt tiêu Quốc tế (IPC) dự kiến sản xuất hạt tiêu của Ấn Độ sẽ giảm trong năm 2019, từ mức 68.000 tấn trong năm 2018, xuống còn 55.000 tấn.

Theo IPC, sản lượng hạt tiêu của Ấn Độ giảm do thời tiết khắc nghiệt tại các vùng trồng chính ở Karrnataka và Kerala.

Trong khi đó, thị trường thế giới đang có nhu cầu ngày càng cao đối với hạt tiêu Malabar Garbled và Tellichery Extra Bold được sản xuất tại vùng Wayanad thuộc bang Kerala của Ấn Độ. Hiện Mỹ và châu Âu là hai thị trường xuất khẩu hàng đầu của Ấn Độ.

Tuy nhiên, việc Mỹ tuyên bố chấm dứt ưu đãi GSP đối với Ấn Độ sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động xuất xuất khẩu hạt tiêu của nước này.

Nguồn: Voh.com.vn