CỔNG THÔNG TIN SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG
nông nghiệp an giang
Điểm tin thị trường

Tin thị trường ngày 02/01/2020

09:00 02/01/2020

Tăng xuất khẩu trái cây vào thị trường khó tính - Năm 2020, nhiều mặt hàng sẽ hồi phục tăng trưởng - Phập phồng trái cây vụ tết - Giá heo hơi tiếp tục đà giảm ở cả ba miền - Giá gà tăng cao, người nuôi phấn khởi - Giá cá bổi Cà Mau tăng kỷ lục .

 

Tăng xuất khẩu trái cây vào thị trường khó tính  (02/01/2020)

Thời gian gần đây, diện tích trồng cây ăn trái của Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung không ngừng tăng nhanh. Cụ thể, tổng diện tích cây ăn trái trên địa bàn tỉnh đã đạt gần 54 ngàn hécta, tăng hàng ngàn hécta so với vài năm trước đó. Diện tích cây ăn trái tăng “nóng” tiềm ẩn nhiều rủi ro về đầu ra, thị trường tiêu thụ.

Đồng Nai phát triển được nhiều vùng chuyên canh cây ăn trái có tiềm năng xuất khẩu tốt. Nhưng để mở rộng kênh xuất khẩu cho trái cây, đặc biệt trong giai đoạn cả những thị trường dễ tính cũng đang nâng chuẩn, thay đổi về tiêu chuẩn nhập khẩu đòi hỏi cả doanh nghiệp và nông dân phải thay đổi từ tập quán sản xuất đến hoạt động kinh doanh, phát triển thị trường.

Phó chủ tịch Liên minh Hợp tác xã (HTX) Việt Nam Nguyễn Mạnh Cường cho biết, trong 2 năm trở lại đây, Liên minh HTX đã hỗ trợ gần 160 mô hình HTX gắn với chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng nông sản, có ứng dụng công nghệ kỹ thuật cao... Đây cũng là định hướng phát triển của kinh tế tập thể trong thời gian tới. Ngoài ra, nhiều tổ chức trong nước và quốc tế đã và đang tham gia tích cực trong xây dựng phát triển nhiều vùng nguyên liệu, vùng sản xuất nông nghiệp theo tiêu chuẩn hữu cơ, tiêu chuẩn GAP. Sự chuyển biến trong sản xuất này nhằm góp phần tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường thế giới cho nông sản Việt.

Hiện Trung Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ lớn nhất về mặt hàng trái cây Việt Nam. Nông dân cũng đang chạy theo đầu tư diện tích cây ăn trái dựa theo nhu cầu tăng, giảm của thị trường chính này. Tuy nhiên, chính họ lại mù mờ về nhu cầu thực sự của thị trường họ đang nhắm đến.

Ông Võ Quan Huy, Giám đốc Công ty TNHH Huy Long An - Mỹ Bình (huyện Đức Huệ, tỉnh Long An) - doanh nghiệp đang đầu tư dự án cánh đồng lớn cây chuối cấy mô xuất khẩu tại huyện Trảng Bom cho lời khuyên, nông dân trong thời hội nhập này không chỉ cần sản xuất giỏi mà phải nắm rõ cả về tình hình thị trường, nhất là hiểu chi tiết, cụ thể nhu cầu của thị trường mà mình hướng đến.

Nông dân chỉ biết trái chuối, thanh long, sầu riêng... xuất khẩu mạnh đi Trung Quốc là đua nhau trồng mà không để ý là thực tế nông dân nước họ trồng được rất nhiều loại nông sản Việt Nam đang trồng và trồng tốt hơn mình. Do đó, vào vụ thu hoạch của nước họ, Trung Quốc không nhập hàng mà có khi còn xuất ngược trở lại thị trường Việt Nam nhiều loại nông sản như: cam, khoai tây, ớt, tỏi... ”Để không rơi vào vòng luẩn quẩn trồng - chặt - trồng, người nông dân phải tìm hiểu khi nào thị trường Trung Quốc cần nhập nông sản gì, nhập bao nhiêu và khi nào họ xuất ngược trở lại để chủ động điều chỉnh sản xuất” - ông Huy nói.

Giám đốc Sở Nông nghiệp - phát triển nông thôn Huỳnh Thành Vinh cho rằng: “Chọn cây trồng, vật nuôi thế mạnh cho Đồng Nai cần dựa trên tầm nhìn phát triển của những giai đoạn tiếp theo chứ không phải chỉ trên thực trạng hiện nay”. Hiện lợi thế của Đồng Nai là cây ăn trái với nhiều loại đặc sản như: chôm chôm, sầu riêng, bưởi... có diện tích thuộc tốp đầu cả nước. Các loại cây ăn trái như bưởi, chôm chôm đã được chứng nhận chỉ dẫn địa lý; nhiều loại cây ăn trái thế mạnh cũng đã xây dựng được vùng sản xuất sạch. Thời gian tới, tỉnh sẽ tập trung xây dựng chuỗi liên kết xuất khẩu trái cây để mở rộng thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm thế mạnh này.

Đầu tư làm trái cây xuất khẩu, nông dân thường bỏ chi phí cao hơn để có tỷ lệ trái lớn, đẹp. Ông Dương Công Huấn, nông dân xã Xuân Hòa (huyện Xuân Lộc) chia sẻ: “Giá thanh long loại 1 bán cho thương lái xuất khẩu thường cao hơn hẳn hàng bán nội địa. Chính vì vậy, tôi thường đầu tư phân, thuốc nhiều hơn, đặc biệt là xử lý vuốt tai, xịt thuốc cho trái đẹp để bán cho thương lái đóng hàng xuất khẩu”.

Tuy nhiên, ý kiến của những doanh nghiệp xuất khẩu trái cây lại cho rằng, nhiều thói quen của nông dân trồng trái cây nói chung, thanh long nói riêng đã không còn phù hợp với nhu cầu mới của thị trường xuất khẩu, nhất là thị trường Trung Quốc đang siết lại tiêu chuẩn về chất lượng qua việc thực hiện truy xuất nguồn gốc và kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên sản phẩm.

Ông Bùi Xuân Hoàng, Tổng giám đốc Công ty TNHH một thành viên khoa học công nghệ Hoàn Vũ (quận Tân Phú, TP.Hồ Chí Minh) nêu ví dụ: “Tôi gặp một khách hàng Nhật Bản, họ chọn mua trái thanh long của Đài Loan dù trái thanh long của nước này có vỏ ngoài thua xa hàng Việt Nam, kích cỡ trái cũng nhỏ nhưng khi kiểm tra về giá trị dinh dưỡng lại cao hơn hẳn”.

Theo ông Hoàng, nông dân nên thay đổi quan niệm làm hàng xuất khẩu là phải vuốt tai, xịt thuốc tăng trưởng để trái thanh long có tai xanh, kích cỡ lớn. Nông dân nên thay đổi lại tập quán sản xuất, chuyển sang sản xuất tự nhiên, chú trọng đến chất lượng, nhất là không bị tồn dư thuốc bảo vệ thực vật.

Nói về việc thay đổi tập quán sản xuất, ông Thế Lãm, Giám đốc điều hành Công ty TNHH tư vấn xuất nhập khẩu và xúc tiến thương mại Toàn Cầu (quận 1, TP.Hồ Chí Minh) chia sẻ, hạn chế lớn nhất là cả chất lượng và sản lượng trái cây của Việt Nam đều chưa đạt yêu cầu.

Ông Thế Lãm lấy ví dụ với trái thanh long, trong một lô hàng xuất khẩu, khi đơn vị mua hàng lấy ngẫu nhiên khoảng 20 trái thanh long để kiểm tra chất lượng, chênh lệch giữa các trái này là rất lớn từ màu sắc, kích cỡ cho đến độ ngọt… nên bị đánh giá thấp. Mặt khác, sản xuất của Việt Nam cũng thiếu ổn định, nông dân mình thấy người hàng xóm thắp đèn làm nghịch vụ là đồng loạt cả vùng trồng đó cùng thắp đèn. Kết quả, thanh long thu hoạch rộ cùng lúc. Trong khi nhu cầu của doanh nghiệp xuất khẩu chỉ 5 container/tuần nhưng nông dân lúc thì thu hoạch ồ ạt hàng chục container/tuần lúc lại không có hàng.

Cũng theo ông Thế Lãm, thương lái Trung Quốc mua trái chuối, trái thanh long của Việt Nam có khi chỉ vài ngàn đồng/kg nhưng họ xuất đi nước khác với giá vài USD/kg vì họ tổ chức chuỗi liên kết từ khâu thu mua, bảo quản đến phân phối tốt. Để trái cây Việt Nam có đầu ra bền vững, bán được với giá trị cao cần tổ chức được những chuỗi liên kết mạnh để đưa sản phẩm từ nông trại đến tận bàn ăn của khách hàng.

Khó khăn hiện nay là liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp vẫn khó hình thành hoặc xây dựng được cũng dễ dàng đổ vỡ. Nguyên nhân vì nông dân thì muốn bán được tất cả nông sản họ làm ra. Doanh nghiệp thì chỉ muốn mua những sản phẩm họ bán hoặc xuất khẩu được.

Ông Phan Thanh Tùng, nông dân trồng chuối già cấy mô xuất khẩu tại xã Thanh Bình (huyện Trảng Bom) chia sẻ, ông thường chọn bán cả vườn cho thương lái. Nhiều lần doanh nghiệp về đặt vấn đề ký hợp đồng bao tiêu chuối xuất khẩu nhưng nông dân vẫn kém mặn mà vì tiêu chuẩn họ thu mua khắt khe hơn, tỷ lệ hàng dạt bị loại bỏ nhiều.

Ông Vương Quan Trường, Giám đốc Công ty TNHH Viline (huyện Nhà Bè, TP.Hồ Chí Minh) cho rằng, để giải bài toán khó hình thành chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân, trong chuỗi cần có sự tham gia của nhiều thành phần doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh và đầu tư chế biến. Trong đó, phải có một đơn vị đứng đầu chuỗi, chịu trách nhiệm phân phối nông sản, bộ phận nào bán tươi, phần nào phân phối ở thị trường nội địa, phần nào xuất khẩu, phần nào đưa vào chế biến...

Một số doanh nghiệp chỉ ra “chiêu” bẻ gãy chuỗi liên kết của thương lái để gây lũng đoạn thị trường là họ sẵn sàng trả giá thật cao để mua hàng của một số nông dân ký hợp đồng bao tiêu với doanh nghiệp. Nông dân ham lợi, bán hàng cho thương lái khiến chuỗi liên kết gãy đổ. Sau đó, thương lái lại nắm toàn quyền chi phối thị trường và khi rộ vụ thu hoạch họ lại ép giá nông sản xuống thấp. Theo ông Trường: “Nông dân chuộng bán hàng cho thương lái còn vì được trả tiền ngay. Một trong những viên gạch đầu tiên giúp gắn kết các chuỗi là nông dân phải thay đổi tư duy sang bán hàng qua hợp đồng, mức lời có thể thấp hơn những khi thị trường sốt giá nhưng luôn được đảm bảo ổn định để yên tâm tái đầu tư vào sản xuất”.

Nguồn: Báo Đồng Nai

 

 

Năm 2020, nhiều mặt hàng sẽ hồi phục tăng trưởng  (02/01/2020)

Năm 2019, do những yếu tố bất lợi, giá trị xuất khẩu nhiều mặt hàng nông nghiệp quan trọng sụt giảm đáng kể. Bước vào năm 2020, nhiều mặt hàng có khả năng sẽ hồi phục, tăng trưởng trở lại.

Với việc đạt kỷ lục xuất khẩu năm 2018, cá tra bước vào năm 2019 với những kỳ vọng không nhỏ. Tuy nhiên, xuất khẩu cá tra trong năm 2019 không những không tăng mạnh như năm trước đó, mà lại liên tục tăng trưởng âm. Đến hết tháng 10/2019, xuất khẩu cá tra chỉ đạt 1,64 tỷ USD, giảm 10% so với cùng kỳ 2018.

Tuy nhiên, những tháng cuối năm 2019, đã xuất hiện những hy vọng lớn cho cá tra Việt Nam trong năm 2020. Trước hết, là việc Cục Kiểm tra An toàn thực phẩm (FSIS) thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ đã công nhận hệ thống kiểm tra sản phẩm cá Siluriformes (trong đó có cá tra, basa…) của Việt Nam tương đương với Mỹ. Với sự công nhận này, cá tra Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ trong thời gian tới sẽ thuận lợi hơn.

Bên cạnh đó, việc Bộ Thương mại Mỹ công bố kết quả sơ bộ của đợt xem xét hành chính thuế chống bán phá giá lần thứ 15 (POR15) đối với cá tra Việt Nam, với thuế suất 0% cho bị đơn bắt buộc và tự nguyện, cũng đang mang lại ít nhiều hy vọng cho xuất khẩu cá tra sang Mỹ trong năm 2020, dù phải đến tháng 2/2020 mới có kết quả cuối cùng.

Đây là thông tin rất được mong đợi với ngành hàng cá tra, bởi trong năm 2019, xuất khẩu cá tra sang Mỹ giảm rất mạnh (giảm tới 45,8% trong 10 tháng đầu năm 2019 khi chỉ đạt 232,9 triệu USD) chủ yếu là do bị áp thuế quá cao từ kết quả cuối cùng của POR14.

Mặt khác, theo đánh giá của Cty Chứng khoán KIS, giá cá tra xuất khẩu sang Mỹ giảm mạnh trong năm 2019 (chủ yếu do giá cá nguyên liệu giảm vì sản lượng tăng cao), có thể sẽ thúc đẩy việc cải thiện nhu cầu tiêu thụ cá tra ở thị trường này trong năm 2020.

Sự tăng trưởng mạnh trở lại của cá tra sang Trung Quốc trong nửa cuối năm 2019, cũng là một dấu hiệu tích cực cho năm 2020. Bởi trong nửa đầu năm 2019, xuất khẩu cá tra sang Trung Quốc gặp khó do chưa thích ứng kịp với các quy định mới của nước này. Nhưng từ quý II trở đi, xuất khẩu cá tra sang Trung Quốc luôn tăng trưởng tốt vì các doanh nghiệp vừa đáp ứng những quy định mới, vừa đẩy mạnh xuất khẩu chính ngạch. Nhờ vậy, Trung Quốc - Hồng Kông đã trở lại vị trí thị trường lớn nhất của cá tra Việt Nam với kim ngạch 552,4 triệu USD trong 10 tháng đầu 2019, tăng 19,3% so với cùng kỳ 2018.

Với đà tăng trưởng tốt của nửa cuối năm 2019 sau khi đã thích ứng với các quy định mới, Trung Quốc sẽ tiếp tục là điểm đến đầy hứa hẹn của cá tra trong năm 2020.

Cũng theo KIS, Trung Quốc đang có nhiều khả năng trở thành thị trường dẫn dắt cho cá tra trong những năm tới bởi quy mô dân số lớn sẽ hỗ trợ cho ngành dịch vụ ăn uống nội địa, tiêu thụ cá tra trên đầu người ở Trung Quốc còn thấp (0,14 kg/người) so với 0,32 kg/người của thị trường Mỹ, sự tham gia mạng mẽ của các nhà xuất khẩu cá tra Việt Nam vào các kênh thương mại điện tử ở Trung Quốc… 

Theo VASEP, Trung Quốc hiện đang là thị trường tiêu thụ đa dạng nhất các sản phẩm cá tra Việt Nam từ sản phẩm cá tra phile đông lạnh truyền thống tới cá tra nguyên con xẻ bướm tẩm muối đông lạnh, bong bóng cá tra sấy, bong bóng cá tra đông lạnh, cá tra cắt khoanh đông lạnh, cá tra nguyên con đông lạnh, bao tử cá tra đông lạnh, phile cá tra cắt tẩm gia vị đông lạnh, chả cá tra đông lạnh, cá tra cắt Nugget tẩm bột chiên đông lạnh… Điều này cũng cho thấy vị thế của thị trường Trung Quốc đối với cá tra Việt Nam hiện nay cũng như trong những năm tới.

Cũng như năm 2018, xuất khẩu tôm năm 2019 vẫn tiếp tục không khả quan, chủ yếu là do giá tôm giảm do nguồn cung tăng cao trên toàn cầu. 10 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu tôm chỉ đạt 2,8 tỷ USD, giảm 6,4% so với cùng kỳ 2018. Theo dự kiến của VASEP, xuất khẩu tôm cả năm 2019 đạt khoảng 3,4 tỷ USD, giảm 4%.

Những tháng cuối năm 2019, xuất khẩu tôm sang một số thị trường quan trọng như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản… đã khả quan hơn do lượng tôm tồn kho giảm. Tuy nhiên, thị trường quan trọng nhất trong năm 2018 là EU, thì lại chưa hồi phục trong những tháng cuối 2019.

Năm 2020, theo dự báo của một số tổ chức quốc tế, nhu cầu tôm toàn cầu năm là khoảng 5,2 triệu tấn. Trong khi đó, theo một khảo sát được thực hiện bởi ông James Anderson, giáo sư tại đại học Florida (Mỹ) và các chuyên gia trong ngành, được báo cáo tại Hội nghị Triển vọng toàn cầu cho các lãnh đạo nuôi trồng thủy sản (GOAL), sản lượng tôm nuôi toàn cầu sẽ vượt mốc 5 triệu tấn vào năm 2020. Như vậy, cung - cầu tôm thế giới năm 2020 có thể sẽ trở nên cân bằng hơn.

Theo một số chuyên gia ngành tôm, việc thu hẹp khoảng cách giữa giá thành tôm Việt Nam với các nguồn cung khác trong những năm qua, đã có những thành tựu đáng ghi nhận.

Cụ thể, những năm 2015 - 2016, giá thành tôm nuôi của Việt Nam cao hơn Ấn Độ, Indonesia khoảng 30%. Đến năm 2017 giảm xuống còn khoảng 20% và đến 2019 còn khoảng 12%.

Giá thành nuôi tôm được cải thiện nhờ Việt Nam đã tự chủ được 30% tôm giống bố mẹ (trước đây phụ thuộc 100% nguồn tôm giống bố mẹ nhập khẩu), áp dụng các quy trình nuôi tôm siêu thâm canh có hiệu quả…

Chính vì vậy, nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn đang đẩy mạnh việc đầu tư các vùng nuôi tôm công nghệ cao để chủ động nguồn nguyên liệu, vừa hạ được giá thành, vừa đảm bảo các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm… để xuất khẩu vào những thị trường khó tính.

Theo một số nhận định khác, nguồn cung tôm thế giới trong năm 2020 vẫn nhỉnh hơn so với cầu khi sản lượng tiếp tục tăng cao ở nhiều nước. Vì vậy, để cạnh tranh tốt hơn trên thị trường thế giới, tôm Việt Nam phải tiếp tục nỗ lực giải quyết một trong những hạn chế lớn nhất là giá thành.

Bên cạnh đó, ngành tôm Việt Nam cần duy trì lợi thế cạnh tranh và thương hiệu của mình, qua việc chú trọng chất lượng sản phẩm, kiểm soát dư lượng kháng sinh, tăng cường xuất khẩu các sản phẩm giá trị gia tăng phù hợp với thị hiếu của các thị trường. 

Sau nhiều năm tăng trưởng liên tục, giá trị xuất khẩu rau quả đã đạt 3,8 tỷ USD vào năm 2018. Trên cơ sở đó, ngành nông nghiệp đặt ra mục tiêu xuất khẩu 4,2 tỷ USD rau quả trong năm 2019.

Tuy nhiên, xuất khẩu rau quả trong năm 2019 lại tăng trưởng âm. Theo Tổng cục Hải quan, trong 11 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu rau quả đạt 3,41 tỷ USD, giảm 2,9% so với cùng kỳ 2018.

Xuất khẩu rau quả giảm, chủ yếu do sự giảm mạnh ở thị trường lớn nhất là Trung Quốc. Rau quả Việt Nam vốn chủ yếu xuất sang Trung Quốc qua đường biên mậu, nên đã gặp khó khăn lớn khi nước này đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc, nhãn mác, bao bì… với nông sản nhập khẩu. 11 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu hàng rau quả sang thị trường Trung Quốc chỉ đạt 2,2 tỷ USD, giảm 14% so với cùng kỳ năm 2018.

Tuy nhiên, một điều rất đáng chú ý là trong khi giá trị xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc giảm mạnh, thì lại tăng trưởng tốt ở nhiều thị trường khác, trong đó có những thị trường khó tính nhưng tiềm năng lớn.

Cụ thể, trong 11 tháng năm 2019, xuất khẩu rau quả sang Mỹ tăng 9,3%; Hàn Quốc tăng 14,3%; Nhật Bản tăng 26,9%; Hà Lan tăng 35,3%; Đài Loan tăng 69,9%; Hồng Kông tăng 220,2%; Thái Lan tăng 47%… Đặc biệt, xuất khẩu sang Lào tăng tới 570,3%, đạt 59 triệu USD, qua đó đưa Lào vào Top 10 thị trường lớn nhất của rau quả Việt Nam.

Sự tăng trưởng mạnh ở các thị trường khác là tín hiệu tốt cho rau quả Việt Nam, bởi nhờ đó mà sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc đã giảm đi đáng kể (11 tháng năm 2019, Trung Quốc chỉ còn chiếm 65,7% tổng giá trị xuất khẩu rau quả Việt Nam so với mức 74,2% của 11 tháng năm 2018).

Đây là cơ sở quan trọng để tin rằng xuất khẩu rau quả sẽ hồi phục sau một năm tăng trưởng âm. Bởi nhu cầu nhập khẩu và tiêu thụ rau quả ở nhiều thị trường vẫn đang rất lớn. Chẳng hạn, trong giai đoạn 2013 - 2018, tổng lượng và giá trị nhập khẩu trái cây của EU tăng lần lượt 24 và 30%. Năm 2018, tổng giá trị nhập khẩu trái cây tươi của EU là hơn 20 tỷ euro.

Trong khi đó, dù đang tăng trưởng tốt nhưng thị phần của Việt Nam ở nhiều thị trường quan trọng còn khá khiêm tốn. Chẳng hạn, theo Eurostat, trong 8 tháng đầu năm 2019, Việt Nam chỉ chiếm 0,5% tổng lượng nhập khẩu của EU đối với trái cây mã HS 080450 (quả me, quả táo, hạt điều, vải thiều, mít, mận, quả hồng xiêm, chanh leo, khế và thanh long) và 081090 (quả ổi, quả xoài, măng cụt).

Việc thực thi các hiệp định thương mại thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, mà theo cam kết thuế quan của các nước dành cho Việt Nam, phần lớn các sản phẩm rau củ quả tươi và chế biến được xóa bỏ thuế hoàn toàn ngay khi Hiệp định có hiệu lực, sẽ tạo cơ hội cho rau quả Việt Nam tiếp tục tăng trưởng ở nhiều thị trường quan trọng.

Xuất khẩu rau quả sang các thị trường châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN… cũng sẽ tiếp tục tăng trưởng do nhu cầu lớn, sự gần gũi về địa lý, thuế hầu hết đã về 0% theo các hiệp định ATIGA, VKFTA và VJFTA.

Với thị trường quan trọng nhất là Trung Quốc, Bộ Công Thương dự báo rằng, trong năm 2020 xuất khẩu hàng rau quả sẽ từng bước ổn định hơn do các doanh nghiệp đã dần quen với các quy định mới trong nhập khẩu hàng rau quả của Trung Quốc.

Thị trường nước ép trái cây và rau quả tăng trưởng do nhu cầu ngày càng tăng đối với thực phẩm lành mạnh, người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến vấn đề sức khỏe. Nước ép lạnh ngày càng phổ biến là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường nước ép trên toàn thế giới. Châu Âu hiện là thị trường tiêu thụ nước ép trái cây và rau quả nhiều nhất thế giới, còn Trung Đông và châu Phi là thị trường tăng trưởng nhanh nhất. Bởi mức tiêu thụ trung bình nước ép trái cây và rau quả mỗi người ở khu vực Trung Đông và châu Phi hiện đang thấp hơn so với các khu vực phát triển. Ở khu vực này đang nổi lên xu hướng tăng tiêu thụ nước ép trái cây và rau quả lành mạnh thay vì nước tăng lực có ga.

Nhập khẩu rau quả của Trung Quốc vẫn đang tăng mạnh, nhất là trái cây tươi, để đáp ứng nhu cầu tăng cao của thị trường nội địa.

Theo Phòng Thương mại Xuất nhập khẩu Thực phẩm, sản phẩm tự nhiên và phụ phẩm vật nuôi Trung Quốc (CFNA), trong 8 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu trái cây tươi của Trung Quốc đạt 5,11 triệu tấn, trị giá 7,32 tỷ USD, tăng tới 35% về lượng và 30% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.

Điều đáng chú ý là trong khi nhập khẩu trái cây của Trung Quốc đang tăng mạnh thì xuất khẩu trái cây của nước này đang suy giảm.

Điều đó cho thấy, nhu cầu tăng cao ở thị trường nội địa đã khiến cho một lượng không nhỏ trái cây của nước này, vốn trước đây dành cho xuất khẩu, giờ đã được đẩy mạnh tiêu thụ trong nước. Như vậy càng thấy rõ thêm về sư gia tăng của nhu cầu tiêu thụ trái cây ở Trung Quốc hiện nay và trong những năm tới.

Bên cạnh việc xuất khẩu trái cây tươi, ngành rau quả Việt Nam cần đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm chế biến, nhất là nước ép, vì quy mô thị trường rất lớn. Theo Mordorintelligence.com, thị trường nước ép trái cây và rau quả thế giới có tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 3,17%/năm trong giai đoạn 2019-2024 và dự báo đạt 174 tỷ USD vào năm 2024. 

Năm 2019, do giá nhân điều xuất khẩu giảm mạnh, nên giá trị xuất khẩu điều giảm so với 2018. Tuy nhiên, năm 2019, xuất khẩu điều đã ghi nhận một kỷ lục mới về lượng khi hết tháng 11, đã xuất khẩu được 413.373 tấn, tăng tới 21,8% so với cùng kỳ 2018.

Đây là lần đầu tiên, lượng nhân điều xuất khẩu vượt mốc 400.000 tấn. Điều này cho thấy, nhân điều Việt Nam tiếp tục được ưa chuộng trên thị trường thế giới.

Theo nhận định của Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas), năm 2020, sẽ tiếp tục có những diễn biến khó lường đối với ngành điều. Trước hết, là những diễn biến phức tạp của kinh tế quốc tế.

Xung đột thương mại Mỹ - Trung, Mỹ - Ấn, tác động không nhỏ tới xuất khẩu nhân điều Việt Nam. Những chính sách bảo hộ của các nước liên quan đến cả điều thô và điều nhân cùng những diễn biến trên thị trường hạt điều toàn cầu.

Tuy nhiên, Vinacas vẫn tự tin hướng tới mục tiêu đạt giá trị xuất khẩu 4 tỷ USD. Để đạt được mục tiêu đó, Vinacas khuyến nghị các doanh nghiệp “giảm lượng, tăng chất” trong nhập khẩu điều thô, nhằm nâng cao chất lượng điều nhân và hiệu quả chế biến.

Các doanh nghiệp chế biến lớn phối hợp và chủ động trong kinh doanh để cơ bản giúp ngành điều làm chủ nguồn nguyên liệu. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh cải tiến máy móc, thiết bị để nâng cao năng lực, hiệu quả chế biến, nhất là chế biến sâu và đa dạng sản phẩm chế biến từ hạt điều, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Nguồn: Báo nông nghiệp Việt Nam

 

 

Phập phồng trái cây vụ tết  (02/01/2020)

Thời điểm này, bà con nông dân trồng cây ăn trái ở Đồng Nai đang tất bật chăm sóc vườn để chuẩn bị vào đợt thu hoạch phục vụ thị trường tết...

Bưởi là loại trái cây không thể thiếu trong mâm ngũ quả ngày tết Nguyên đán, chính vì vậy nhu cầu của người dân đối với loại trái cây này là rất lớn. Gia đình anh Huỳnh Văn Hoàng, ấp Ruộng Tre, xã Bảo Quang, TP Long Khánh trồng được hơn 500 gốc bưởi.

Theo anh Hoàng, để có bưởi bán đúng dịp tết, anh phải đầu tư chăm sóc, bón phân và tưới nước từ tháng 4 và đến nay vẫn tiếp tục dưỡng trái đợi ngày thu hoạch. Trung bình mỗi năm, vườn bưởi của gia đình anh Hoàng cho sản lượng khoảng 30 tấn, trong đó, riêng vụ tết khoảng 10 tấn, với giá bán dự kiến 60.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí anh thu về khoảng 400 triệu đồng.

“Năm nay, lượng bưởi chuẩn bị cho thị trường tết của gia đình tôi không có nhiều như mọi năm, nhưng trái rải đều cây, cộng với việc chăm sóc cẩn thận nên mẫu mã và chất lượng bưởi tốt. Hy vọng năm nay giá bán sẽ cao hơn…”, anh Hoàng chia sẻ.

Tương tự, giống bưởi đường lá cam Tân Triều (huyện Vĩnh Cửu) cũng luôn hút hàng vì được nhiều người tiêu dùng lựa chọn sử dụng hoặc dùng làm quà biếu tết. Tuy nhiên, bưởi đường lá cam năm nay không thuận, nhiều nhà vườn thu ít hoặc bưởi đã chín sớm hơn 1 tháng so với mọi năm.

Bà Trần Thị Phương Chi, nông dân trồng bưởi tại xã Tân Bình (huyện Vĩnh Cửu) nhận xét, bưởi đường lá cam không thuận, nhưng bưởi da xanh ruột hồng năng suất vẫn khá tốt, dự kiến nguồn cung vẫn dồi dào do diện tích giống bưởi này tăng rất nhanh trong vài năm trở lại đây.

Không chỉ riêng với bưởi, hiện tại ở nhiều địa bàn trồng xoài, thanh long của Đồng Nai cũng đang bắt đầu vào kỳ thu hoạch xoài nghịch vụ. Tuy nhiên, năm nay nhiều vùng xoài lớn trong tỉnh bị giảm mạnh về năng suất.

Ông Nguyễn Văn Lý, nông dân xã Mã Đà (huyện Vĩnh Cửu) cho biết, hầu hết các vườn xoài cát Hòa Lộc trên địa bàn xã đều bị ảnh hưởng năng suất vì đợt xoài ra bông trúng ngay dịp mưa bão nhiều. Ngoài ra, nhiều vườn xoài trồng giống Đài Loan, giống ba mùa mưa cũng giảm mạnh năng suất do thời tiết bất thuận.

Còn ông Nguyễn Thanh Hùng, nông dân trồng thanh long ruột đỏ tại xã Xuân Hưng (huyện Xuân Lộc) chia sẻ: “Cuối năm nông dân trồng thanh long đều phải thắp đèn để cây ra hoa, kết trái nghịch vụ nên chi phí cao hơn hẳn vụ thu hoạch chính. Năm nay, sản lượng trái thu hoạch cuối năm dự kiến cũng sẽ thấp hơn năm ngoái; thậm chí một số vườn phải bỏ cả lứa thu hoạch vì thời tiết nóng, lạnh thất thường khiến cây không đậu trái”.

Theo ông Hùng, với tình hình giá đầu vụ thấp như hiện nay, khi vào vụ thu hoạch rộ dịp tết Nguyên đán, loại trái cây này sẽ rất khó bán với giá cao vì từ đầu năm đến nay, thị trường tiêu thụ chính là Trung Quốc đang siết chặt tiêu chuẩn nhập khẩu.

Tiếp xúc với chúng tôi, bà Nguyễn Thị Nga, chủ vựa thu mua trái cây tại xã Vĩnh Tân (huyện Vĩnh Cửu) cho biết: “Tết năm nay sản lượng nhiều loại trái cây không tốt nhưng vẫn khó kỳ vọng giá cao. Hiện giá thanh long tuyển đạt chuẩn xuất khẩu chưa đến 30.000 đồng/kg, thấp hơn khoảng 10.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm ngoái.

Nhiều loại trái cây khác như bưởi đường lá cam loại tuyển cũng chỉ từ 500.000 - 600.000 đồng/chục (loại 12 trái), giá bao vườn chỉ từ 250.000 - 300.000 đồng/chục, giảm khoảng 100.000 đồng/chục so với cùng kỳ năm ngoái.

Bưởi da xanh ruột hồng khoảng 32.000 - 35.000 đồng/kg, giảm khoảng 5.000 đồng/kg so với cùng kỳ. Giá các loại cam, quýt từ 10.000 -14.000 đồng/kg, giảm khoảng 5.000 đồng/kg so với cùng kỳ…"

Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam

 

 

Giá heo hơi tiếp tục đà giảm ở cả ba miền   (02/01/2020)

Giá heo hơi tại các tỉnh miền Nam: Tại Đồng Nai, Long An, Hậu Giang..., giá heo hơi hôm nay cũng đã giảm còn khoảng trên dưới 89.000 đồng/kg.

Tỉnh Cà Mau giá heo báo tăng 1.000 đồng/kg lên 91.000 đồng/kg. Tại tỉnh Trà Vinh giá heo vẫn ở mức 93.000 đồng/kg, là địa phương cao nhất toàn miền. Tại tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng, Tiền Giang, Vũng Tàu, Hậu Giang, Đồng Tháp, Long An, Tây Ninh, Bình Dương, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Phước giá heo dao động trong khoảng từ 90.000 - 92.000 đồng/kg. Còn tại An Giang, Cần Thơ, Kiên Giang giá heo đang ở mức  87.000 - 88.000 đồng/kg.

Thị trường heo hơi miền Trung hôm nay tiếp tục giảm, với mức giảm 2.000- 4.000 đồng/kg. Giá heo hơi hôm nay tại miền Trung được thương lái thu mua tại chuồng là từ 80.000 - 90.000 đồng/kg.

Tại Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa thiên Huế giá heo hơi hôm nay cùng giảm 2.000 đồng/kg, xuống 81.000 đồng/kg. Trong khi đó, Bình Thuận ghi nhận mức giá heo giảm mạnh nhất, tới 4.000 đồng/kg, xuống 84.000 đồng/kg. Khu vực Tây Nguyên có Lâm Đồng giảm 2.000 đồng/kg, còn 87.000 – 88.000 đồng/kg.

Thanh Hoá, Nghệ An ổn định với mức giá duy trì những phiên gần đây là 90.000 đồng/kg. Các tỉnh thành khác của miền Trung, giá heo nằm trong khoảng 86.000 - 88.000 đồng/kg.

Giá heo hơi giao dịch tại miền Bắc hiện đang nằm trong khoảng giá từ 86.000 - 92.000 đồng/kg.

Giá heo hơi hôm nay tại miền Bắc vẫn ghi nhận tình trạng giảm ở một số tỉnh thành. Giá heo xuất chuồng tại Vĩnh Phúc, Hà Nội, và Hưng Yên cùng giảm nhẹ xuống 86.000 đồng/kg -91.000 đồng/kg.

Như vậy Hưng Yên từ tỉnh có giá heo cao nhất nước nhiều tháng qua, và cũng là nơi xuất phát mức giá heo hơi 100.000 đồng/kg, sau vài ngày đã nhanh chóng lao xuống còn 91.000 đồng/kg.

Phú Thọ, Tuyên Quang giá heo hơi chỉ còn 88.000 đồng/kg. Ninh Bình vẫn đang duy trì mức giá cao nhất vùng: 92.000 đồng/kg.

Các địa phương còn lại, giá heo trung bình trong khoảng từ 90.000- 92.000 đồng/kg.

Nguồn: Voh.com.vn

 

 

Giá gà tăng cao, người nuôi phấn khởi  (01/01/2020)

Những ngày qua, khi giá heo hơi tăng cao kỷ lục thì giá gà thịt trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cũng tăng mạnh.

Dự báo, những ngày cận Tết Nguyên đán nhu cầu sản phẩm chế biến từ thịt gà tăng cao nên dự báo giá gà thịt sẽ còn tiếp tục tăng.

Theo các hộ chuyên nuôi gà thả vườn trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, hiện giá gà thịt đang tăng khá cao. Cách đây khoảng 5 tháng, giá gà ta chỉ khoảng 50.000 đồng/kg, thì đến thời điểm này là 70.000 - 72.000 đồng/kg, nhiều hộ chăn nuôi rất phấn khởi.

Ông Nguyễn Văn Long, xã Suối Rao, huyện Châu Đức, đang nuôi 5.000 con gà công nghiệp, cho biết thương lái đang thu mua gà lông trắng với giá trên 40.000 đồng/kg, tăng 14.000 - 16.000 đồng/kg so với gần 1 tháng trước. Gà lông màu cũng tăng giá từ 36.000 - 38.000 đồng/kg lên 56.000 - 65.000 đồng/kg.

"Năm nay giá gà so với tết năm 2019 đã tăng gấp đôi. Với giá này người chăn nuôi chúng tôi quá phấn khởi. Nếu được ổn định, sang năm 2020 chúng tôi sẽ tiếp tục đầu tư thêm", ông Long nói.

Ông Phạm Phước Cương, ngụ ấp Bàu Chiên, xã Tân Lâm, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đang nuôi 1.500 con gà ta thả vườn để chuẩn bị xuất bán vào dịp Tết Nguyên đán.

Ông Cương cho biết, năm ngoái gà bán vào dịp Tết Nguyên đán chỉ được 50.000 đồng/kg, nhưng hiện nay đã tăng lên 70.000 - 72.000 đồng/kg, với đà này dự báo cận Tết giá sẽ còn tăng.

Ông Giao Văn Sỹ, Trưởng phòng Chăn nuôi, Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nhận định, giá gà hiện đã ở mức cao và có thể tăng nhẹ đến cuối năm, tuy nhiên sẽ không xảy ra tình trạng tăng đột biến trong dịp Tết.

Ông Sỹ cũng lưu ý, khi tăng đàn, người chăn nuôi cần lưu ý đến một số vấn đề như chất lượng nguồn giống. Nông dân cũng cần lựa chọn nguồn giống đạt chuẩn tại các cơ sở uy tín, tránh rủi ro trong chăn nuôi.

"Người chăn nuôi cần chuẩn bị hiểu biết tốt về chăm sóc gia cầm nếu không khó đạt hiệu quả kinh tế cao. Ngoài ra, nếu chưa có kỹ thuật phòng chống dịch bệnh tốt, nguy cơ xảy ra dịch bệnh đối với đàn gia cầm sẽ rất cao. Cuối cùng, nếu chuyển từ chăn nuôi heo sang gia cầm, khi cung vượt cầu sẽ dẫn đến giá thấp", ông Sỹ khuyến nghị.

Nhiều hộ chăn nuôi nhận định, nguyên nhân giá gà thịt tăng mạnh thời gian gần đây là do việc thiếu hụt nguồn cung thời điểm cận Tết. Ngoài ra, trước việc giá heo đang tăng cao, nhiều người tiêu dùng có xu hướng lựa chọn các loại thực phẩm thay thế, trong đó, thịt gà là ưu tiên hàng đầu.

Nguồn: Vov.vn

 

 

Giá cá bổi Cà Mau tăng kỷ lục  (31/12/2019)

Mấy ngày gần đây, giá cá bổi tươi tại huyện Trần Văn Thời, Cà Mau tăng kỷ lục, cao hơn so với trước khoảng 15.000 đồng/kg.

Hiện tại, cá bổi tươi loại 8 con/kg có giá từ 56.000 đồng đến 57.000 đồng/kg. Theo các cơ sở sản xuất cá khô bổi cho biết, chưa bao giờ giá cá bổi tươi tăng mạnh như năm nay. Nguyên nhân là do dịp cuối năm nhu cầu nguồn nguyên liệu sản xuất tăng cao, cộng với diện tích và sản lượng cá bổi ở huyện Trần Văn Thời sụt giảm nên cung không đủ cầu.

Hiện nay, các cơ sở sản xuất cá khô bổi đang tập trung đẩy nhanh tiến độ sản xuất nhằm phục vụ người tiêu dùng trong dịp tết nên thời gian tới giá cá bổi tươi có thể còn tiếp tục tăng lên.

Nguồn: Vtv.vn