CỔNG THÔNG TIN SỞ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH AN GIANG
nông nghiệp an giang
Trồng trọt - BVTV

Khuyến nông theo định hướng tái cơ cấu

09:50 28/12/2020

Tái cơ cấu là tổ chức, sắp xếp lại mô hình sản xuất, kinh doanh phù hợp với điều kiện hiện có, và xây dựng chiến lược hành động cụ thể để hướng hệ thống đi vào chuyên nghiệp. Hưởng ứng phong trào tái cơ cấu, Trung tâm Khuyến nông An Giang đặt ra mục tiêu chung, đó là chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật để giúp nông dân sản xuất hiệu quả, bền vững; giúp nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm làm ra và giảm thiểu tối đa tổn hại đến môi trường sinh thái.

Trong tái cơ cấu, ngành khuyến nông thực hiện thành công phong trào xã hội hóa sản xuất lúa giống, đã góp phần đưa nhanh thương hiệu gạo Việt Nam ra thị trường thế giới. Sự nhiệt tình, tâm huyết của đội ngũ cán bộ kỹ thuật, cùng khả năng tiếp nhận và ứng dụng hiệu quả tiến bộ mới đã giúp các tổ đội nhân giống ngày càng mở rộng quy mô sản xuất. Phong xã hội hóa luôn được phát huy, hiện nay, diện tích sản xuất lúa giống theo tổ đội luôn đạt khoảng 22.000 ha/năm, đã cung cấp cho thị trường nguồn lúa giống chất lượng tốt, giá cả phải chăng, góp phần nâng cao đời sống nông dân.

Trong 03 năm từ năm 2018 - 2020, công tác tập huấn, nâng cao kiến thức cho cán bộ kỹ thuật và nông dân được Trung tâm thực hiện thường xuyên. Cụ thể, (1) Đối với ngành hàng cá tra: Đã thực hiện được 03 lớp đào tạo tập huấn nâng cao năng lực cho 75 cán bộ. Tổ chức 9 lớp tập huấn kỹ thuật nuôi cá tra thương phẩm cho 270 nông dân và thành viên HTX, Tổ HT; (2) Đối với ngành hàng chăn nuôi bò: Đã tổ chức 04 lớp cập nhật kiến thức cho 100 cán bộ, khuyến nông viên về các tiến bộ kỹ thuật, tiêu chuẩn VietGAPHP. Tổ chức 11 lớp tập huấn cho 275 nông dân về kỹ thuật chăn nuôi bò thịt theo hướng an toàn sinh học, cách quản lý tổ nhóm...; (3) Đối với ngành hàng nấm ăn, nấm dược liệu: Tích cực tập huấn nâng cao kiến thức cho cán bộ và nông dân trồng nấm, song song với thành lập các tổ nhóm sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm. Đã tổ chức 3 lớp tập huấn cho cán bộ kỹ thuật và 7 lớp tập huấn cho 175 nông dân. Đã thực hiện 6 mô hình trình diễn trồng nấm rơm theo tầng kệ, trồng nấm theo dạng trụ, trồng nấm rơm phối trộn bông vải, ứng dụng các thiết bị kỹ thuật như ẩm kế, nhiệt kế, nhằm cải thiện năng suất. Kết quả, năng suất nấm rơm tăng 40% so với cách trồng truyền thống; lợi nhuận đạt trung bình từ 3 – 5 triệu đồng/100 mét mô/vụ. Đã tổ chức 6 cuộc hội thảo nhân rộng mô hình nhằm tổng kết đánh giá hiệu quả. Tổ chức 01 cuộc học tập kinh nghiệm các mô hình trồng nấm đạt hiệu quả cao tại Cần Thơ, Đồng Nai và TP.Hồ Chí Minh cho 20 nông dân. Thành lập 04 tổ nhóm sản xuất nấm và các tổ hợp tác đều có liên kết với thương lái tiêu thụ tại địa phương.

Riêng lúa gạo là ngành hàng có lực lượng nông dân tham gia đông đảo, nên quy mô chuyển giao tiến bộ kỹ thuật luôn được mở rộng. Trong 3 năm 2018 - 2020 đã thực hiện: (1) Tổ chức 22 cuộc họp củng cố phân hội giống, có 660 nông dân tham dự; song song với cung cấp thông tin thị trường, chủ trương chính sách và lập kế hoạch sản xuất. Kết quả: diện tích nhân giống hàng năm được duy trì ổn định. Cụ thể: năm 2018 diện tích nhân giống đạt 30.968ha; năm 2019: 28.706 ha; và năm 2020 đạt 30.149 ha; (2) Đã tố chức 01 chuyến tham quan học tập kinh nghiệm mô hình sản xuất lúa giống có hiệu quả ở tỉnh bạn; (3) Tổ chức buổi tọa đàm về công tác nhân giống, nhằm giúp tổ giống có giải pháp tốt hơn cho việc tổ chức sản xuất. Kết quả, hiện nay, diện tích liên kết tiêu thụ lúa giống với doanh nghiệp đạt 3.702 ha; (4) Tập huấn nâng cao kiến thức về chuỗi giá trị lúa gạo cho 75 cán bộ kỹ thuật và 630 nông dân để thúc đẫy tính liên kết bền vững giữa nông dân và doanh nghiệp; (5) Thực hiện 60 điểm trình diễn về mô hình trồng giống lúa, nếp triển vọng, chất lượng cao (mỗi điểm trình diễn từ 5-8 giống) và tổ chức 30 cuộc hội thảo với trên 1.700 đại biểu và nông dân tham dự. Nông dân đã bình chọn một số giống lúa-nếp có triển vọng: OM418, Số 3-ĐHCT, nếp OM406, NV20… với năng suất bình quân đạt từ 5,83 – 7,6 tấn/ha góp phần bổ sung vào cơ cấu giống của tỉnh; (6) Phối hợp với doanh nghiệp chọn 22 vùng nguyên liệu để thực hiện sản xuất theo yêu cầu. Kết quả, đã giúp giảm lượng giống xuống còn 100 kg/ha, trong khi sản xuất lúa truyền thống lượng gieo sạ từ 150 – 200 kg/ha, song song với giảm được lượng phân Urê và giảm áp lực sâu bệnh.

Trong sản xuất, được sự hỗ trợ của các cơ quan ban ngành, sự nhiệt tình của nông dân, do vậy đã thu được nhiều thắng lợi, nhưng khó khăn, thách thức cũng đan xen. (1) Đối với ngành hàng lúa gạo: Diện tích sản xuất lúa giống nhiều nhưng do việc mua bán bản quyền một số giống lúa chủ lực nên người nhân giống không thể thực hiện kiểm nghiệm, kiểm định hạt giống theo đúng quy trình nên khó đảm bảo chất lượng hạt giống (chủ yếu lấy chữ tín để duy trì), chưa có bao bì sản phẩm,..., chi phí hỗ trợ cho các điểm mô hình còn thấp, các doanh nghiệp tham gia hỗ trợ bao tiêu sản phẩm còn hạn chế; (2) Đối với ngành hàng chăn nuôi bò, nông dân còn ngại áp dụng lai tạo các giống bò mới. Một số nông hộ nuôi bò không chịu cho ăn thức ăn công nghiệp, chủ yếu là cho ăn cỏ, rơm nên bò chậm lớn và bị thương lái chèn ép; (3) Đối với ngành hàng nấm ăn, nấm dược liệu: Chi phí xây dựng các nhà trồng nấm khá lớn. Việc đốt đồng sau thu hoạch còn phổ biến đã gây thiếu hụt nguồn rơm nguyên liệu làm cho giá tăng cao. Đội ngũ nguồn nhân lực ngành hàng nấm phục vụ tái cơ cấu còn yếu nên chưa đáp ứng được yêu cầu. Chưa có doanh nghiệp nào làm đầu tàu để thúc đẩy phát triển ngành hàng nấm ăn và nấm dược liệu; (4) Đối với ngành hàng cá tra: VietGAP sinh sau các GAP khác nên đã tiếp thu và kế thừa được nhiều cái khó của các GAP khác, vì thế, khó ứng dụng hơn. Hơn nữa, VietGAP lại chưa được quốc tế công nhận cũng như chưa được chuyển đổi ngang bằng với các GAP khác nên việc tìm đầu ra cho sản phẩm không dễ. Sự thiếu đồng bộ và mất cân đối giữa quy hoạch và phát triển trong nhiều năm cũng là một trong những nguyên nhân làm cho việc triển khai và ứng dụng VietGAP trở nên khó khăn hơn.

Hướng tới, Khuyến nông luôn tích cực nâng cao chất lượng tuyên truyền thông qua tập huấn, hội thảo, tham quan... Đề nghị được hỗ trợ thêm nguồn kinh phí để tăng diện tích so sánh giống, xây dựng thương hiệu lúa giống cho tỉnh. Cần hoàn chỉnh quy trình sản xuất cho từng nhóm ngành hàng và có chính sách cụ thể hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, thu mua tiêu thụ sản phẩm.

 

Kim Kiều