Chuyên trang  THỦY SẢN

Kết quả bước đầu thực hiện Tiêu chuẩn quốc tế SQF 1000CM tại An Giang

Cập nhật:01/6/2006

An Giang là tỉnh đầu nguồn khu vực hạ lưu sông Mê-Kong, với hai nhánh sông Tiền và sông Hậu chảy qua (170 km) cùng với hệ thống kênh rạch chằng chịt (5.100 km), đã tạo cho An Giang lợi thế và tiểm năng to lớn trong nuôi trồng và khai thác thủy sản nước ngọt.

Nghề nuôi trồng thủy sản ở An Giang bắt đầu phát triển mạnh vào những năm 70 thế kỷ trước và phát triển đặt trưng với nghề nuôi cá trong lồng bè đặt trên sông Tiền và sông Hậu. Từ khi triển khai thực hiện "Đề án phát triển thủy sản tỉnh An Giang giai đoạn 2000-2005" và “Định hướng quy hoạch phát triển thủy sản của tỉnh đến năm 2010” thì diện tích nuôi thủy sản của tỉnh An Giang không ngừng tăng lên mà chủ yếu là nuôi ao, trong đó nuôi cá tra thâm canh là chủ yếu (chiếm 80% cơ cấu). Nghề nuôi cá tra trong ao phát triển mạnh vì lợi nhuận cao và từ đó quy mô và diện tích nuôi ngày càng có xu hướng tăng. Sản lượng nuôi trồng thủy sản của tỉnh cũng tăng nhanh trong giai doạn từ năm 1996-2005. Nếu như năm 1996 là 48.427 tấn  thì năm 2005 con số này là 180.809 tấn.

Từ những năm đầu của thế kỷ 21, việc nâng cao chất lượng thủy sản nuôi để giữ vững thị trường và tăng uy tín hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới được đặt ra như một thách thức cho các nhà quản lý cũng như các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu. Việc xác định các mối nguy từ nuôi trồng thủy sản đối với người tiêu dùng như:

Mối nguy vật lý: Bao gồm những vật cứng, sắc, nhọn, có thể gây thương tích cho hệ tiêu hoá của người tiêu dùng.

Mối nguy sinh học: Bao gồm các loại ký sinh trùng, virút, các loại vi khuẩn gây bệnh.

Mối nguy hoá học, kháng sinh: Là các hoá chất độc hại, kháng sinh cấm hoặc hạn chế  sử dụng trong thực phẩm có thể gây hại đến sức khoẻ người tiêu dùng.

Trong các mối nguy trên mối nguy hóa học là quan trọng nhất. Các nhà nhập khẩu thường lợi dụng để dựng lên các hàng rào kỹ thuật áp đặt cho các nhà xuất khẩu.

Mong muốn của ngành thủy sản An Giang là tổ chức sản xuất ở vùng nuôi sao cho chất lượng sản phẩm đạt yêu cầu về chất lượng của các thị trường lớn thế giới đòi hỏi. An Giang là một trong những tỉnh đi đầu trong việc tiếp cận tiêu chuẩn Quốc tế để làm nền tảng cho việc nâng cao chất lượng thủy sản nuôi. Cuối năm 2002, tỉnh An Giang đã tiếp cận Tiêu chuẩn Quốc tế SQF 1000CM thông qua Công ty TNHH SGS Việt Nam. Qua đó, nhận thức việc thực hiện tiêu chuẩn SQF 1000CM nhằm:

Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng thủy sản Việt Nam và thế giới trong thời hội nhập.

Đáp ứng yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm của các thị trường nhập khẩu, đặc biệt là việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Tránh thiệt hại cho người nuôi và nhà sản xuất do sản phẩm có chứa dư lượng các chất có hại vượt quá giới hạn cho phép. Gắn với quản lý vùng nuôi.

 

Các công tác đã triển khai thực hiện tại An Giang

Thành lập Ban điều hành thực hiện chương trình SQF 1000CM do Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT An Giang làm Trưởng Ban.  Thực hiện 10 bước trong tiêu chuẩn SQF 1000CM

Bước 1: Đào tạo chuyên viên thực hành SQF 1000CM – 2000CM.

Bước 2: Hội thảo biên soạn Quy tắc hành xử

Bước 3: Xem xét Quy tắc hành xử.

Bước 4: Soạn thảo Kế hoạch tổng thể

Bước 5: Xây dựng Sổ tay chất lượng và duyệt Quy tắc hành xử.

Bước 6: Duyệt Sổ tay chất lượng.

Bước 7: Xây dựng Sổ tay đào tạo cho chương trình SQF.

Bước 8: Đào tạo giảng viên

Bước 9: Đào tạo chuyên gia đánh giá nội bộ.

Bước 10: Chứng nhận và cấp chứng chỉ SQF 1000CM cho từng nhóm, cụm nuôi.

 

Một số kết quả bước đầu

Ngày 12 – 14/04/2005 đã chứng nhận chính thức cho 19 hộ (31 bè) ở khu vực Tp. Long Xuyên của cụm bè "Câu lạc bộ 20.000 tấn" thuộc Công ty Cổ phần AGIFISH.

Đã chứng nhận cho Trung tâm Nghiên cứu và Sản xuất giống thủy sản tỉnh An Giang và 7 cơ sở vệ tinh của Trung tâm vào tháng 3/2006.

Ngoài việc thực hiện chương trình SQF trong tỉnh, Ban thực hiện chương trình SQF 1000CM tỉnh An Giang còn hỗ trợ cho Nông trường Sông Hậu (Sohafarm) lập các hồ sơ và thủ tục để chứng nhận tiêu chuẩn SQF 2000CM cho nhà máy chế biến của Nông trường và tiêu chuẩn SQF 1000CM cho nông trại của Nông trường trong đó có 4 trại nuôi cá tra thương phẩm phục vụ xuất khẩu.

Tỉnh An Giang đã đăng ký chứng nhận cho 50 chuyên viên thực hành SQF 1000CM là các cán bộ chuyên ngành của tỉnh để mở rộng mạng lưới tư vấn lập thủ tục, hồ sơ chứng nhận cho các tổ chức, cá nhân tham gia các Hội nuôi cá sạch của các doanh nghiệp trong tỉnh. Dự kiến tháng 6/2006 sẽ được Viện SQF của Hoa Kỳ cấp chứng nhận.

Đã thành lập Hội nuôi cá sạch của Công ty AFIEX An Giang và Công ty TNHH Nam Việt, tập huấn nuôi thủy sản an toàn chất lượng theo tiêu chuẩn SQF 1000CM cho các hộ nuôi cá tra cung ứng nguyên liệu cho doanh nghiệp.

Tiếp tục triển khai rộng chương trình SQF 1000CM cho 100% các doanh nghiệp trong tỉnh thông qua chương trình thành lập Hội nuôi cá sạch của các doanh nghiệp.

Mỗi doanh nghiệp sẽ tạo cho mình vùng nguyên liệu sạch cung ứng cho nhà máy chế biến, lấy tiêu chuẩn SQF 1000 làm nền tảng của mối liên kết chủ đạo giữa doanh nghiệp và người nuôi.

 

Vấn đề phát triển tiêu chuẩn SQF 1000CM đến năm 2010 cần quan tâm

Thực hiện dự án huấn luyện kỹ năng nuôi thủy sản an toàn chất lượng và chọn tạo giống thủy sản chất lượng cao cho 60.000 ngư dân và lao động nghề cá trong tỉnh. Trong đó Tiêu chuẩn SQF 1000CM được sử dụng để làm tài liệu giảng dạy chính cho ngư dân và lao động nghề cá.

Tổ chức lại sản xuất ngành thủy sản, đặc biệt là nghề nuôi trồng và chế biến thủy sản, xây dựng và hoàn thiện mối liên kết 4 Nhà. Trong đó quan tâm mối liên kết chủ đạo giữa doanh nghiệp và ngư dân.

Có thể khái quát mô hình phát triển bằng công thức (03-01-03). Nghĩa là: 03 điều kiện cần và đủ; 01 hệ quả và 03 thách thức.

03 điều kiện cần và đủ là:

- Điều kiện cần thứ nhất:  Sự đồng thuận ban đầu giữa Doanh nghiệp và nông dân về lợi ích, trách nhiệm lẫn nhau và quy mô sản xuất, tiến đến “Sản xuất thủy sản theo hợp đồng”.

- Điều kiện cần thứ hai: Cơ sở kỹ thuật của mô hình, người nuôi và Doanh nghiệp phải áp dụng một tiêu chuẩn Quốc tế hoặc Quốc gia có bên thứ ba chứng nhận độc lập. Tập huấn an toàn vệ sinh cho nguyên liệu thủy sản theo chương trình SQF 1000CM cho cán bộ kỹ thuật, ngư dân và lao động nghề cá.

- Thứ ba, là điều kiện đủ: Vai trò Doanh nghiệp và Doanh nhân tiên phong dẫn đầu đoàn tàu của sự liên kết 04 Nhà.

01 hệ quả: Vùng nuôi thuận lợi, hộ nuôi có khả năng kinh nghiệm, vốn liếng, chấp nhận được với điều kiện mới và sản lượng lớn sẽ nhập cuộc nhanh vào cuộc chơi mới, các đối tác này sẽ xít lại gần nhau trong quá trình liên kết vùng trên 01 loại sản phẩm. Còn lại là hệ quả có thể thấy trước của quá trình này đó là các đơn vị nhỏ lẻ sẽ bị đào thải ra khỏi cuộc chơi lớn trong nền sản xuất hàng hóa thời hội nhập.

03 thách thức: 01 thách thức bên trong và 02 thách thức bên ngoài:

- Thách thức đầu tiên là thách thức bên trong: Sự giả hiệu của mô hình nuôi với 03 điều kiện cần và đủ. Thực chất là một thứ trương bảng hiệu giả.

- Thách thức về môi trường bên ngoài tác động vào vùng nuôi: Quy hoạch nuôi và gắn với đầu tư thuỷ lợi cho phát triển thủy sản (vùng, hộ nuôi là của 01 DN cụ thể). Để loại trừ quy hoạch treo à tăng cường hiệu quả đầu tư.

- Thách thức về quản lý Nhà nước: Thực trạng thực thi pháp luật chưa nghiêm, là thách thức bên ngoài. Thanh tra, kiểm tra, kiểm soát và xử lý, xử phạt vi phạm từ thực hiện quy hoạch, các lệnh cấm, các quy định về bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn lợi, kinh doanh cung ứng giống, thức ăn, thú y thủy sản, tính thực thi pháp luật của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Ban Điều hành sản xuất và tiêu thụ cá tra, basa Việt Nam đã thống nhất tại Hội nghị Ban Điều hành việc xây dựng thương hiệu chung cho cá tra, basa toàn vùng và lấy tiêu chuẩn SQF 1000CM làm nền tảng.

Kết luận tại Hội nghị tổng kết hoạt động năm 2005 và triển khai kế hoạch hoat động năm 2006, Trưởng ban Điều hành sản xuất và tiêu thụ cá tra, basa Việt Nam, ông Nguyễn Hoàng Việt đã phát biểu: “Về tiêu chuẩn chất lượng nền, các tỉnh thành viên Ban Điều hành vẫn duy trì thực hiện tiêu chuẩn SQF như là tiêu chuẩn trục và mở rộng các tiêu chuẩn khác theo yêu cầu của thị trường. Trong thời gian tới sẽ lấy chất lượng để làm nền cho sự gắn kết giữa người nuôi và Nhà chế biến, Nhà nước cũng lấy chất lượng làm trục để quản lý”.

Trong thời gian tới, triển vọng phát triển nghề nuôi cá tra, basa là rất lớn, nhưng cũng có nhiều thách thức cần vượt qua. Việc áp dụng tiêu chuẩn Quốc tế cho vùng nuôi để đảm bảo đòi hỏi khắc khe của các nước nhập khẩu là vấn đề cần phải được quan tâm sâu sắc của các thành viên trong mối liên kết 4 Nhà, mà liên kết chủ đạo là Nhà doanh nghiệp và ngư dân. Tiêu chuẩn SQF 1000CM sẽ được triển khai triệt để tại An Giang và cùng đồng hành với các tiêu chuẩn Quốc tế khác theo yêu cầu của Nhà nhập khẩu, điều đó cho phép chúng ta có thể tin tưởng rằng ngành công nghiệp sản xuất cá tra, basa An Giang sẽ cất cánh.

Trần Anh Dũng

Phó Chi Cục trưởng - Chi cục Thủy sản An Giang

Trở về trang Chuyên đề Hội thảo

 

Các bài có liên quan

Chương trình Hội thảo Thủy sản Quốc tế " An toàn chất lượng sản phẩm cá Tra, Basa Việt Nam đáp ứng yêu cầu thị trường thực phẩm Thế giới"

Cập nhật:10/6/2006

Khái quát về Wal-Mart Stores Inc và những yêu cầu thâm nhập thị trường

Cập nhật:15/6/2006

Phát biểu của Ngư dân: Lợi ích gia nhập nhập Liên hợp sản xuất cá sạch AGIFISH

Cập nhật:13/6/2006

Bài phát biểu kết luận của Thứ trưởng Bộ Thủy sản Nguyễn Việt Thắng tại Hội thảo Thủy sản Quốc tế

Cập nhật:12/6/2006

Diễn văn Chào mừng Hội thảo của Thứ trưởng Bộ Thủy sản, Nguyễn Việt Thắng

Cập nhật:12/6/2006

Diễn văn Khai mạc Hội thảo của Bí thư Tỉnh ủy An Giang, Nguyễn Hoàng Việt

Cập nhật:11/6/2006

Từ Hiệp định SPS tác động đến tiêu chuẩn SQF

Cập nhật:06/6/2006

Hội thảo Thủy sản Quốc tế tại An Giang -  Cơ hội mới cho sản phẩm cá tra, basa Việt Nam

Cập nhật:01/6/2006

Bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm từ khâu sản xuất

Cập nhật: 31/5/2006

Sản xuất giống cá tra, basa chất lượng cao - Hướng đi mới của ngành thủy sản Đồng bằng sông Cửu Long

Cập nhật: 30/5/2006

Hội thảo Quốc tế về chất lượng và an toàn cho nuôi trồng thủy sản Việt Nam tổ chức tại An Giang

Cập nhật: 29/5/2006

 

 

Địa chỉ Ban Biên tập: 

Phòng Xúc tiến thương mại & Thông tin quảng bá , Trung tâm Khuyến nông An Giang

Số 4 Nguyễn Du, phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, An Giang

Điện thoại : 076.954706     -   Fax : 076.856759

E-mail : ttkhuyennong@vnn.vn