|
An
Giang là tỉnh đầu nguồn khu vực hạ lưu sông Mê-Kong, với hai
nhánh sông Tiền và sông Hậu chảy qua (170 km) cùng với hệ
thống kênh rạch chằng chịt (5.100 km), đã tạo cho An Giang
lợi thế và tiểm năng to lớn trong nuôi trồng và khai thác
thủy sản nước ngọt.
Nghề nuôi trồng thủy sản ở An Giang bắt đầu
phát triển mạnh vào những năm 70 thế kỷ trước và phát triển
đặt trưng với nghề nuôi cá trong lồng bè đặt trên sông Tiền
và sông Hậu. Từ khi triển khai thực hiện "Đề án phát triển
thủy sản tỉnh An Giang giai đoạn 2000-2005" và “Định hướng
quy hoạch phát triển thủy sản của tỉnh đến năm 2010” thì
diện tích nuôi thủy sản của tỉnh An Giang không ngừng tăng
lên mà chủ yếu là nuôi ao, trong đó nuôi cá tra thâm canh là
chủ yếu (chiếm 80% cơ cấu). Nghề nuôi cá tra trong ao phát
triển mạnh vì lợi nhuận cao và từ đó quy mô và diện tích
nuôi ngày càng có xu hướng tăng. Sản lượng nuôi trồng thủy
sản của tỉnh cũng tăng nhanh trong giai doạn từ năm
1996-2005. Nếu như năm 1996 là 48.427 tấn thì năm 2005 con
số này là 180.809 tấn.
Từ
những năm đầu của thế kỷ 21, việc nâng cao chất lượng thủy
sản nuôi để giữ vững thị trường và tăng uy tín hàng thủy sản
Việt Nam trên thị trường thế giới được đặt ra như một thách
thức cho các nhà quản lý cũng như các doanh nghiệp chế biến
xuất khẩu. Việc xác định các mối nguy từ nuôi trồng thủy sản
đối với người tiêu dùng như:
Mối nguy vật lý: Bao gồm những vật cứng, sắc, nhọn, có thể
gây thương tích cho hệ tiêu hoá của người tiêu dùng.
Mối nguy sinh học: Bao gồm các loại ký sinh trùng, virút,
các loại vi khuẩn gây bệnh.
Mối nguy hoá học, kháng sinh: Là các hoá chất độc hại, kháng
sinh cấm hoặc hạn chế sử dụng trong thực phẩm có thể gây
hại đến sức khoẻ người tiêu dùng.
Trong các mối nguy trên mối nguy hóa học là quan trọng nhất.
Các nhà nhập khẩu thường lợi dụng để dựng lên các hàng rào
kỹ thuật áp đặt cho các nhà xuất khẩu.
Mong muốn của ngành thủy sản An Giang là tổ
chức sản xuất ở vùng nuôi sao cho chất lượng sản phẩm đạt
yêu cầu về chất lượng của các thị trường lớn thế giới đòi
hỏi. An Giang là một trong những tỉnh đi đầu trong việc tiếp
cận tiêu chuẩn Quốc tế để làm nền tảng cho việc nâng cao
chất lượng thủy sản nuôi. Cuối năm 2002, tỉnh An Giang đã
tiếp cận Tiêu chuẩn Quốc tế SQF 1000CM thông qua
Công ty TNHH SGS Việt Nam. Qua đó, nhận thức việc thực hiện
tiêu chuẩn SQF 1000CM nhằm:
Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho người
tiêu dùng thủy sản Việt Nam và thế giới trong thời hội nhập.
Đáp ứng yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm
của các thị trường nhập khẩu, đặc biệt là việc truy xuất
nguồn gốc sản phẩm.
Tránh thiệt hại cho người nuôi và nhà sản
xuất do sản phẩm có chứa dư lượng các chất có hại vượt quá
giới hạn cho phép. Gắn với quản lý vùng nuôi.
Các công tác đã triển khai thực hiện tại An
Giang
Thành lập Ban điều hành thực hiện chương
trình SQF 1000CM do Giám đốc Sở Nông nghiệp &
PTNT An Giang làm Trưởng Ban.
Thực
hiện 10 bước trong tiêu chuẩn SQF 1000CM
Bước 1: Đào tạo chuyên viên thực hành SQF
1000CM – 2000CM.
Bước 2: Hội thảo biên soạn Quy tắc hành xử
Bước 3: Xem xét Quy tắc hành xử.
Bước 4: Soạn thảo Kế hoạch tổng thể
Bước 5: Xây dựng Sổ tay chất lượng và duyệt
Quy tắc hành xử.
Bước 6: Duyệt Sổ tay chất lượng.
Bước 7: Xây dựng Sổ tay đào tạo cho chương
trình SQF.
Bước 8: Đào tạo giảng viên
Bước 9: Đào tạo chuyên gia đánh giá nội bộ.
Bước 10: Chứng nhận và cấp chứng chỉ SQF 1000CM
cho từng nhóm, cụm nuôi.
Một số kết quả bước đầu
Ngày 12 – 14/04/2005 đã chứng nhận chính thức
cho 19 hộ (31 bè) ở khu vực Tp. Long Xuyên của cụm bè "Câu
lạc bộ 20.000 tấn" thuộc Công ty Cổ phần AGIFISH.
Đã chứng nhận cho Trung tâm Nghiên cứu và Sản
xuất giống thủy sản tỉnh An Giang và 7 cơ sở vệ tinh của
Trung tâm vào tháng 3/2006.
Ngoài việc thực hiện chương trình SQF trong
tỉnh, Ban thực hiện chương trình SQF 1000CM tỉnh
An Giang còn hỗ trợ cho Nông trường Sông Hậu (Sohafarm) lập
các hồ sơ và thủ tục để chứng nhận tiêu chuẩn SQF 2000CM
cho nhà máy chế biến của Nông trường và tiêu chuẩn SQF 1000CM
cho nông trại của Nông trường trong đó có 4 trại nuôi cá tra
thương phẩm phục vụ xuất khẩu.
Tỉnh An Giang đã đăng ký chứng nhận cho 50
chuyên viên thực hành SQF 1000CM là các cán bộ
chuyên ngành của tỉnh để mở rộng mạng lưới tư vấn lập thủ
tục, hồ sơ chứng nhận cho các tổ chức, cá nhân tham gia các
Hội nuôi cá sạch của các doanh nghiệp trong tỉnh. Dự kiến
tháng 6/2006 sẽ được Viện SQF của Hoa Kỳ cấp chứng nhận.
Đã thành lập Hội nuôi cá sạch của Công ty
AFIEX An Giang và Công ty TNHH Nam Việt, tập huấn nuôi thủy
sản an toàn chất lượng theo tiêu chuẩn SQF 1000CM
cho các hộ nuôi cá tra cung ứng nguyên liệu cho doanh
nghiệp.
Tiếp tục triển khai rộng chương trình SQF
1000CM cho 100% các doanh nghiệp trong tỉnh thông
qua chương trình thành lập Hội nuôi cá sạch của các doanh
nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp sẽ tạo cho mình vùng nguyên
liệu sạch cung ứng cho nhà máy chế biến, lấy tiêu chuẩn SQF
1000 làm nền tảng của mối liên kết chủ đạo giữa doanh nghiệp
và người nuôi.
Vấn đề phát triển tiêu chuẩn SQF 1000CM
đến năm 2010 cần quan tâm
Thực hiện dự án huấn luyện kỹ năng nuôi thủy
sản an toàn chất lượng và chọn tạo giống thủy sản chất lượng
cao cho 60.000 ngư dân và lao động nghề cá trong tỉnh. Trong
đó Tiêu chuẩn SQF 1000CM được sử dụng để làm tài liệu giảng
dạy chính cho ngư dân và lao động nghề cá.
Tổ chức lại sản xuất ngành thủy sản, đặc biệt
là nghề nuôi trồng và chế biến thủy sản, xây dựng và hoàn
thiện mối liên kết 4 Nhà. Trong đó quan tâm mối liên kết chủ
đạo giữa doanh nghiệp và ngư dân.
Có thể khái quát mô hình phát triển bằng công
thức (03-01-03). Nghĩa là: 03 điều kiện cần và đủ; 01 hệ quả
và 03 thách thức.
03 điều kiện cần và đủ là:
- Điều kiện cần thứ nhất:
Sự đồng thuận ban đầu giữa Doanh nghiệp và
nông dân về lợi ích, trách nhiệm lẫn nhau và quy mô sản
xuất, tiến đến “Sản xuất thủy sản theo hợp đồng”.
-
Điều kiện cần thứ hai:
Cơ sở kỹ thuật của mô hình, người nuôi và Doanh nghiệp phải
áp dụng một tiêu chuẩn Quốc tế hoặc Quốc gia có bên thứ ba
chứng nhận độc lập. Tập huấn an toàn vệ sinh cho nguyên liệu
thủy sản theo chương trình SQF 1000CM cho cán bộ
kỹ thuật, ngư dân và lao động nghề cá.
-
Thứ ba, là điều kiện đủ:
Vai trò Doanh nghiệp và Doanh nhân tiên phong dẫn đầu đoàn
tàu của sự liên kết 04 Nhà.
01 hệ quả: Vùng nuôi
thuận lợi, hộ nuôi có khả năng kinh nghiệm, vốn liếng, chấp
nhận được với điều kiện mới và sản lượng lớn sẽ nhập cuộc
nhanh vào cuộc chơi mới, các đối tác này sẽ xít lại
gần nhau trong quá trình liên kết vùng trên 01 loại sản
phẩm. Còn lại là hệ
quả có thể thấy trước của quá trình này đó là các đơn vị nhỏ
lẻ sẽ bị đào thải ra khỏi cuộc chơi lớn trong nền sản xuất
hàng hóa thời hội nhập.
03 thách thức: 01 thách thức bên trong
và 02 thách thức bên ngoài:
-
Thách thức đầu tiên là thách thức bên trong:
Sự giả hiệu của mô hình nuôi với 03
điều kiện cần và đủ. Thực chất là một thứ trương bảng hiệu
giả.
-
Thách thức về môi trường bên ngoài tác động vào
vùng nuôi: Quy hoạch nuôi và gắn
với đầu tư thuỷ lợi cho phát triển thủy sản (vùng, hộ nuôi
là của 01 DN cụ thể). Để loại trừ quy hoạch treo
à tăng cường
hiệu quả đầu tư.
-
Thách thức về quản lý Nhà nước:
Thực trạng thực thi pháp luật chưa nghiêm, là
thách thức bên ngoài. Thanh tra, kiểm tra, kiểm soát và xử
lý, xử phạt vi phạm từ thực hiện quy hoạch, các lệnh cấm,
các quy định về bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn lợi, kinh
doanh cung ứng giống, thức ăn, thú y thủy sản, tính thực thi
pháp luật của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Ban Điều hành sản xuất và tiêu thụ cá tra, basa Việt Nam đã
thống nhất tại Hội nghị Ban Điều hành việc xây dựng thương
hiệu chung cho cá tra, basa toàn vùng và lấy tiêu chuẩn SQF
1000CM làm nền tảng.
Kết luận tại Hội nghị tổng kết hoạt động năm 2005 và triển
khai kế hoạch hoat động năm 2006, Trưởng ban Điều hành sản
xuất và tiêu thụ cá tra, basa Việt Nam, ông Nguyễn Hoàng
Việt đã phát biểu: “Về tiêu chuẩn chất lượng nền, các tỉnh
thành viên Ban Điều hành vẫn duy trì thực hiện tiêu chuẩn
SQF như là tiêu chuẩn trục và mở rộng các tiêu chuẩn khác
theo yêu cầu của thị trường. Trong thời gian tới sẽ lấy chất
lượng để làm nền cho sự gắn kết giữa người nuôi và Nhà chế
biến, Nhà nước cũng lấy chất lượng làm trục để quản lý”.
Trong thời gian tới, triển vọng phát triển nghề nuôi cá tra,
basa là rất lớn, nhưng cũng có nhiều thách thức cần vượt
qua. Việc áp dụng tiêu chuẩn Quốc tế cho vùng nuôi để đảm
bảo đòi hỏi khắc khe của các nước nhập khẩu là vấn đề cần
phải được quan tâm sâu sắc của các thành viên trong mối liên
kết 4 Nhà, mà liên kết chủ đạo là Nhà doanh nghiệp và ngư
dân. Tiêu chuẩn SQF 1000CM sẽ được triển khai
triệt để tại An Giang và cùng đồng hành với các tiêu chuẩn
Quốc tế khác theo yêu cầu của Nhà nhập khẩu, điều đó cho
phép chúng ta có thể tin tưởng rằng ngành công nghiệp sản
xuất cá tra, basa An Giang sẽ cất cánh.
|