|
Ở Việt Nam, hàng trăm hecta đất dọc theo bờ
sông đă bị sạt lở. Có hàng ngàn cây số đê điều bị đe dọa sạt lở do sóng đánh
khi có tàu thuyền đi qua. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) lại là vùng
ngập lũ thường xuyên hằng năm, nên vấn đề pḥng chống sạt lở bờ sông, đê điều
là điều đáng quan tâm. Những con số về thiệt hại đă được ước tính tăng theo
cấp số nhân mà các biện pháp pḥng chống sạt lở đă và đang áp dụng tốn nhiều
chi phí nhưng hiệu quả không cao. Do vậy, vấn đề pḥng chống sạt lở bờ sông,
đê điều sao cho có hiệu quả và kinh tế là điều đáng quan tâm của các
ngành
và các cấp.
Dựa vào đặc tính thực vật có thể sử dụng cỏ
Vetiver vào việc
pḥng chống sạt lở bờ sông, đê điều ở
ĐBSCL nói riêng và
Việt Nam nói chung, bước đầu đă được nghiên cứu và triển khai.
Tuy nhiên,
diện tích và mức độ sử dụng loài cỏ này cũng c̣n nhiều hạn chế. Nguyên nhân
có thể do:
1. Số lượng cây giống c̣n quá ít không đủ
cung cấp.
2. V́ chúng có khả năng thích nghi rộng ở
nhiều vùng sinh thái khác nhau. Người ta nghi ngờ nó có thể trở thành dịch
hại.
Những năm gần đây, An
Giang đă t́m nguồn
giống cỏ Vetiver để trồng với mục đích chống sạt lở ở một số
huyện như Tri
Tôn, Tân Châu… và một số tỉnh ở ĐBSCL cũng như một số tỉnh
miền Đông, miền
Bắc cũng đă triển khai trồng loại cỏ này v́ mục đích chống xói ṃn, sạt lở.
Vậy cỏ Vetiver là loại ǵ? nguồn gốc của nó như thế nào? Và tại sao nó đă
được nhiều nước trên thế giới áp dụng trồng rộng răi
? V́ mục đích chống xói
ṃn và sạt lở đất?
Các kết quả nghiên cứu đă cho thấy có 12
giống cỏ Vetiver được biết đến, trong đó được trồng phổ biến là loài cỏ
Vetiver có tên khoa học Vetiveria Zizanioides L. thuộc họ
Graminae, họ phụ
Panicoideae, tộc Andropogoneae, tộc phụ
Sorghinae. Loài cỏ này trong những
năm gần đây đă phát triển mạnh mẽ v́ lợi ích to lớn của chúng là chống xói
ṃn do bộ rễ phát triển mạnh, thành chùm đan xen trong đất và có thể chịu
được lực bằng 1/6 lần so với chịu lực của bê tông. Với bộ rễ ăn sâu trong
đất, 3 mét sâu trong một năm đầu. Do đó, trồng loài cỏ này được xem như xây
dựng một hàng rào bê tông sinh học chống lại xói ṃn và bảo vệ đất đai. Hệ
thống rễ này phát triển thành mạng lưới dày đặc giữ cho đất kết dính lại,
đồng thời không cho đất bị bật ra khi gặp những ḍng chảy có vận tốc lớn.
Ngoài ra, thân cỏ mọc đứng và vươn thẳng nếu trồng sát nhau th́ làm giảm vận
tốc ḍng chảy, chặn được lớp đất bị nước cuốn trôi.
1. Nguồn gốc
Có hai loài cỏ Vetiver phổ biến đă được
trồng để bảo vệ đất là V. zizanioides và
Vetiveria nigritana. Tuy nhiên,
loài V. zizanioides phân bố trong vùng ẩm, trong khi loài
V. nigritana hiện
diện ở những vùng khô hơn. Có hai kiểu gen của loài
Vetiveria zizanioides đă
và đang được sử dụng:
- Kiểu gen Bắc Ấn Độ:
Là loại cỏ hoang dại
và được gieo trồng bằng hạt.
- Kiểu gen Nam Ấn Độ:
Là loại cỏ có khả
năng tạo màu cho đất thấp và là loài bất thụ.
Số nhiễm sắc thể gốc ở các giống cỏ
Vetiver
là x = 10 và 2n = 20 (2x)
Ở Việt Nam, trong quyển “Tên cây rừng Việt
Nam” của Nhà xuất bản Nông nghiệp, 1992 ghi nhận cỏ
Vetiver được gọi là cỏ
Hương bài hoặc cỏ Hương lau, có tên khoa học là
Vetiveria zizanioides L.
Giống cỏ này đă được trồng ở Thái B́nh để sản xuất dầu thơm.
Paul Trương
(1999) cho rằng nó bắt nguồn từ Nam Ấn Độ và thuộc loại Monto, có một loại
cỏ địa phương cũng được gọi là cỏ Hương
bài, cùng tên phân loại là vetiveria
zizanioides L. được t́m thấy ở Miền Trung, quanh vùng Pleiku và Ban Mê
Thuột, nó tự nhân giống để tồn tại bằng hạt của ḿnh, v́ vậy chắc chắn loại
cỏ này không bắt nguồn từ Nam Ấn Độ như loại Monto.
Ngoài ra, dựa vào h́nh dạng cây, hoa và đặc
biệt là mùi thơm đặc trưng của bộ rễ, một số nhà khoa học đă đặt tên theo
địa phương gồm ba giống như sau:
(i) Giống Đồng Nai có hoa tím, hạt lép không
nảy mầm, rễ có mùi thơm đặc trưng của cỏ
Vetiver.
(ii) Giống B́nh Phước có hoa tím, hạt lép
không nảy mầm, h́nh dạng giống như giống Đồng Nai nhưng rễ không có mùi
thơm.
(iii) Giống Daklak có hoa tím, hạt lép không
nảy mầm và rễ có mùi thơm đặc trưng như giống Đồng Nai.
2. Một số đặc tính nông học của cỏ
Vetiver (V. zizanioides L.)
Thân
Dạng thân cọng, chắc, đặc, cứng và hoá gỗ.
Cỏ Vetiver mọc thành bụi dày đặc. Từ gốc rễ mọc ra rất nhiều chồi ở các
hướng. Thân cỏ mọc thẳng đứng, cao trung b́nh 1,5-2m. Phần thân trên không
phân nhánh, phần dưới đẻ nhánh rất mạnh.
Mắt
Nhẵn nhụi không lông nằm tiếp giáp giữa các
thân cọng cỏ, lồi ra; từ đó tạo ra rễ khi cỏ
Vetiver được chôn vùi vào đất.
Lá
Phiến lá hẹp, dài khoảng 45-100cm, rộng
khoảng 6-12mm, dọc theo ŕa lá có răng cưa bén.
Rễ
Rễ là phần hữu dụng và
quan trọng nhất. Đa số cỏ dại có rễ dạng sợi, trăi dài ra từ phần thân cỏ
trên mặt đất và cặm vào đất theo hướng ngang, c̣n rễ cặm đứng vào đất không
mọc sâu. Ngược lại, cỏ Vetiver không có căn hành, không ḅ lan, thân rễ đan
xen nhau và có thể phát triển rất nhanh. Do đó, hệ thống rễ cỏ vetiver không
mọc trăi rộng mà lại cắm thẳng đứng sâu vào trong đất, kể cả rễ chính, rễ
thứ cấp hoặc rễ dạng sợi. Rễ có dạng chùm không mọc trải rộng mà lại cắm
thẳng đứng sâu 3-4m, rộng đến 2,5m sau hai năm trồng. Rễ của loài
Vetiveria zizanioides có chứa tinh dầu, chất lượng tốt nhất 18 tháng sau khi
trồng với lượng tinh dầu 2-2,5% trọng lượng khô.
Cơ quan sinh sản
Loài Vetiveria zizanioides được dùng phổ
biến v́ có đặc điểm không tạo hạt, nhân giống chủ yếu bằng phương pháp vô
tính nên không thể mọc tràn lan như một loại cỏ dại khác.
Cỏ Vetiver là cây lưỡng tính, có gié hoa
lưỡng tính. Các gié hoa có phân hoá giới tính như lưỡng
tính, đực hoặc bất thụ có ở cùng trên một cây.
3. Đặc tính sinh thái
Phân bố địa lư và sinh thái
Trên thế giới, cỏ Vetiver đă được dùng rộng
răi để chống xói ṃn đất. Tại Nam Ấn Độ, gần thành phố Mysora, nông dân đă
trồng cỏ Vetiveria nigratana làm băng cây xanh từ khoảng 200 năm nay cũng
như nông dân ở Kano, Nigeria cũng đă trồng cỏ
Vetiver hàng thế kỷ nay. Từ
giữa thập niên 80, công nghệ cỏ Vetiver đă được giới thiệu đến hơn 100 nước
và hiện nay có hàng trăm hecta đất được áp dụng công nghệ băng cỏ
Vetiver ở
147 nước, trong đó có 106 nước sử dụng với mục đích bảo vệ đất và nước.
Theo nhiều tài liệu, cỏ Vetiver hiện được
trồng nhiều ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, như Châu Phi nhiệt đới
(Ethiopia, Nigeria...), Châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia,
Philippines, Thái Lan...), Châu Úc, Trung và Nam Mỹ (Colombia...).
Trong tự nhiên, cỏ Vetiver có ở vùng đồng
trũng và dọc bờ suối; c̣n hiện nay, cỏ Vetiver được trồng rộng răi làm băng
cây xanh để bảo vệ đất và nước ở các vị trí như: bờ sông, bờ đê, bờ ao và hồ
chứa nước, dọc theo các kinh tưới hoặc tiêu nước, đập nước, các vịnh nước,
các đường nước và mương cắt nước; khu vực chu vi của một công tŕnh, các
sườn đất dốc, dọc các xa lộ, cũng như ở các vùng mỏ...
Khí hậu
Cỏ Vetiver phát triển được ở mức nhiệt độ
trung b́nh là 18-250C, nhiệt độ tháng lạnh nhất trung b́nh là 50C,
nhiệt độ tối thiểu tuyệt đối là -150C. Khi mặt đất đóng băng, cỏ
sẽ chết. Nhiệt độ mùa hè nóng 250C sẽ kích thích cỏ phát triển
nhanh, sự sinh trưởng thông thường bắt đầu ở nhiệt độ hơn 120C.
Cỏ Vetiver có sức chịu đựng đối với sự biến động khí hậu cực kỳ lớn như hạn
hán kéo dài, lũ lụt, ngập úng. Khả năng chịu ngập úng kéo dài đến 45 ngày ở
luồng nước sâu 0,6-0,8m và chịu được biên độ nhiệt từ -100C đến
480C.
Lượng mưa
Cỏ Vetiver cần lượng mưa khoảng 300mm,
nhưng trên 700mm, có lẽ thích hợp hơn để cỏ tồn tại suốt thời gian khô hạn,
thông thường cỏ Vetiver cần một mùa ẩm ướt ít nhất 3 tháng, lư tưởng nhất là
có mưa hàng tháng.
Ẩm độ
Cỏ Vetiver phát triển tốt ở điều kiện ẩm
hoặc ngập nước hoàn toàn trên 3 tháng. Tuy nhiên, chúng cũng sinh trưởng tốt
ở điều kiện khô hạn nhờ hệ thống rễ đâm ăn sâu vào đất nên cỏ
Vetiver có thể
chịu đựng được khô hạn và trên các triền dốc.
Ánh sáng
Cỏ Vetiver là loại cây C4 nên chúng thích
hợp trong vùng có lượng ánh sáng cao. Loài này phát triển yếu dưới bóng râm,
khi bóng râm được bỏ đi th́ cỏ sẽ phục hồi sinh trưởng rất nhanh.
Đất
Cỏ Vetiver mọc tốt nhất ở đất cát sâu, tuy
nhiên nó cũng phát triển được ở phần lớn các loại đất, từ đất vertisol
nứt - đen đến đất alfisol đỏ. Cỏ c̣n mọc trên đá vụn, đất cạn và cả đất trũng
ngập nước.
Cỏ Vetiver mọc tốt nhất ở chỗ đất trống và
thoát nước tốt, nhất là ở đất non trẻ tạo từ tro núi lửa. Hàm lượng tinh dầu
trong rễ cỏ Vetiver sẽ tăng lên nếu cỏ được trồng ở đất sét.
Từ những đặc điểm thực vật và sinh thái của
cỏ Vetiver (V. zizanioides L.) cho thấy chúng là loài có khả năng thích nghi
rộng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, phát triển được ở những vùng đất
tương đối khắc nghiệt và có thể dùng được trồng với mục đích chống xói ṃn
và sạt lở đất để bảo vệ đất đai. |