TÀI LIỆU KỸ THUẬT

 

Pḥng Trừ bệnh đạo ôn cho lúa

Cập nhật: 09/01/2006

              

Bệnh cháy lá lúa là bệnh gây hại quan trọng nhất trên cây lúa, c̣n được gọi là bệnh đạo ôn. Khi dịch cháy lá xảy ra trên diện rộng th́ sự thiệt hại đến năng suất và sản lượng sẽ thấy rất rơ nét và có ư nghĩa quan trọng đến kinh tế. Tác nhân gây bệnh có thể tấn công mọi giai đoạn của cây lúa; bắt đầu từ giai đoạn mạ hoặc sau khi gieo sạ cho đến trước trổ th́ gọi là bệnh cháy lá. Bệnh có thể gây hại trên cổ lá nên gọi là thối cổ lá, hoặc gây hại trên cổ bông nên được gọi là thối cổ bông làm lép hạt; đôi khi bệnh có thể gây lem vỏ hạt lúa. Bệnh nặng sẽ làm mất trắng năng suất nếu bà con nông dân không phát hiện sớm và pḥng trị kịp thời.

1.Triệu chứng bệnh

Đốm bệnh điển h́nh trên lá có h́nh thoi, những đốm to th́ hai đầu nhọn, tâm màu xám trắng. Trên giống nhiễm, các vết bệnh rất to có thể dài đến 1,5 cm thường liên kết với nhau tạo thành măng cháy khô trên lá. Trên giống kháng, các vết bệnh thường rất nhỏ, bằng đầu kim màu nâu, rất dễ nhầm lần với vết bệnh đốm nâu mới phát triển.

2. Tác nhân gây bệnh

Tác nhân gây hại là nấm Pyricularia oryzae Cav. hay P. grisea (Cook )Sacc. Bào tử của nấm rất nhỏ, có thể phát tán và bay cao đến 24 m, thậm chí đến 10.000m để lây lan cho các ruộng lân cận trong khu vực. Nấm phát triển tốt trong điều kiện mát từ 24-280C, ẩm độ cao >80%, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm cao sẽ dễ phát sinh thành dịch. Bào tử nấm nẩy mầm khi gặp lớp nước tự do trên lá hay không khí băo ḥa nước; ở 240C bào tử cần 6 giờ, ở 280C mất 8 giờ; vượt quá 280C bào tử phát triển kém. Bào tử xâm nhập vào tế bào lá bằng cách mọc thành đĩa áp, chọc thủng vách tế bào lá lúa. Ngoài ra, bào tử c̣n tiết ra độc tố pyricularin gây độc cho cây (Ou, 1983). Cây lúa là kư chủ chính, bệnh có thể lưu tồn trên các cây kư chủ phụ mọc quanh ruộng như các loài cỏ lồng vực, đuôi phụng, cỏ chỉ, lúa ma, lúa rày-lúa chét...

3. Các yếu tố giúp phát sinh bệnh

- Điều kiện khí hậu thời tiết:

Bệnh này thường phát triển mạnh trong điều kiện khí hậu mát mẽ, ẩm độ cao, mưa nhỏ kéo dài, đêm sương mù nhiều. Đặc biệt trong vụ lúa Đông Xuân tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long vào tháng giêng-tháng hai dương lịch, bệnh này sẽ gây hại trên diện rộng trùng vào lúc lúa đứng cái đến trổ. Bà con trồng lúa tại các vùng thường xuyên bị bệnh cháy lá hằng năm như Tiền Giang, An Giang, Đồng Tháp và Sóc Trăng cần lưu ư có biện pháp pḥng ngừa.

- Điều kiện khô hạn:

Điều kiện khô hạn làm cây lúa thiếu nước, quá tŕnh trao đổi chất kém, khả năng hấp thu dinh dưỡng yếu, cây lúa không chống chọi được bệnh. Ở những vùng cao nguyên; điều kiện khô hạn thiếu nước kết hợp với đêm sương mù nhiều, biên độ nhiệt lớn sẽ làm cho bệnh này càng dễ phát sinh mạnh.

- Mật độ gieo trồng:

Mật độ gieo sạ cũng có liên quan đến khả năng phát triển của bệnh cháy lá. Gieo sạ càng dày, tán lá lúa càng nhiều, khả năng che khuất càng lớn, ẩm độ dưới tán lá càng cao, điều kiện vi khí hậu càng thuận lợi cho nấm cháy lá phát triển.

- Phân bón:

Ba lọai phân N-P-K đều có ảnh hưởng rất lớn đến việc phát sinh bệnh nếu bón không cân đối. Thông thường bón dư thừa phân đạm sẽ làm tăng bệnh; dư phân lân không thấy rơ ảnh hưởng lên bệnh. Tuy nhiên, nếu bón thêm phân lân trên vùng đất phèn sẽ hạn chế bệnh cháy lá rất rơ ràng. Phân kali có ảnh hưởng rất phức tạp trên sự phát triển của bệnh cháy lá; bón dư thừa đạm và kali đều làm tăng bệnh; bón đạm vừa phải kết hợp đủ lượng kali th́ sẽ giảm bệnh rất rơ. Do đó, trong giai đọan sau trổ nếu ruộng bị nhiễm bệnh cháy lá hoặc thối cổ bông th́ không được bón thêm phân bón lá có nitrat kali.

-  Giống lúa:

Thông thường các giống lúa cao sản ngắn ngày khi được phóng thích đưa vào sản xuất đại trà th́ đă được các nhà khoa học lai tạo, tuyển chọn để cây lúa có khả năng ít nhiều mang gen có thể kháng hay chống chịu lại bệnh cháy lá. Trồng các giống lúa nhiễm bệnh; khi gặp điều kiện thời tiết thuận lợi cho mầm bệnh, áp lực nguồn bệnh trong khu vực cao th́ cây lúa dễ bị “sụp mặt” cháy rụi nhanh rồi chết. Ngược lại, nếu trồng giống lúa kháng bệnh kết hợp với việc áp dụng IPM th́ cây lúa sẽ đứng vững và tiếp tục cho năng suất. Khả năng kháng lại bệnh của giống lúa chỉ có thể tồn tại trong một thời gian nhất định do con nấm gây bệnh cháy lá thường xuyên thay đổi "tính chất gây bệnh" để phù hợp với "con bệnh". Do đó, bà con nên thay đổi giống mới sau một thời gian canh tác. Ng̣ai ra, "tính chất gây bệnh" của các con nấm cũng thay đổi theo khu vực; thường được các nhà khoa học gọi là "ṇi hay ḍng nấm địa phương". Tại Sóc Trăng có 4 ṇi, Tiền Giang 3 ṇi, Vĩnh Long có có 2 ṇi (Teraoka và Phạm Văn Kim, 2002). Như vậy bà con nông dân không nên chủ quan, không nên tin tưởng tuyệt đối là giống lúa kháng bệnh cháy lá được mua từ  Sóc Trăng về; khi trồng tại khu vực Tiền Giang sẽ kháng được với bệnh này.

4. Biện pháp pḥng trị

Cần áp dụng biện pháp pḥng trừ dịch hại tổng hợp IPM:

- Nên chọn mua giống lúa xác nhận ở nhà cung cấp giống tin tưởng, phải có tính "kháng bệnh" hoặc "kháng vừa" kết hợp với khả năng kháng được rầy nâu. Các giống này phải phù hợp với chân đất tại địa phương cũng như năng suất cao và chất lượng tốt. Tùy theo mục đích để đạt chất lượng gạo ngon, dễ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, bà con có thể chọn một số giống như sau: IR64, VNĐ 95-20, VNĐ 99-3, OMCS 2000, OM 1490, MTL 250, OM 3536, VĐ 20, Jasmine 85...

- Nên chọn hạt giống sạch bệnh, khử lẫn tạp hạt cỏ, xử lư một số loại bệnh trên vỏ hạt bằng cách pha 20cc thuốc CRUISER Plus với 2 lít nước phun lên 100kg hạt giống trong giai đoạn ủ từ  6-12 giờ trước khi đem đi gieo sạ.

- Nên dùng biện pháp sạ hàng với lượng giống trung b́nh: 80-120 kg/ha

- Bón phân cân đối N-P-K, không bón thừa phân đạm: 80-100kg N/ha là đủ. Nên bón phân đạm theo theo nhu cầu cây lúa, áp dụng bảng so màu lá lúa LCC.

- Sau mùa thu hoạch nên cày vùi rơm rạ để trả lại nguồn hữu cơ cho đất đồng thời diệt được mầm bệnh; hạn chế đốt rơm v́ biện pháp này chỉ trả lại một số chất khoáng có trong tro; đất dần dần kém mẫu mỡ mau suy kiệt

- Vệ sinh đồng ruộng bằng cách thu gom, tiêu diệt lúa rày-lúa chét, cỏ dại mọc ven bờ là nơi lưu tồn và lây lan mầm bệnh sau này

- Giữ mực nước đầy đủ thường xuyên trên mặt ruộng tùy theo nhu cầu nước theo từng giai đọan của cây lúa, tránh để ruộng khô nước khi bệnh cháy lá xảy ra

- Cần thăm đồng thường xuyên, phát hiện kịp thời khi bệnh chớm xuất hiện. Nếu được, nên làm lô ruộng dự tính dự báo, dành riêng khoảng vài mét vuông trên cùng ruộng lúa, sạ dầy hơn b́nh thường, bón dư phân đạm.

- Biện pháp hóa học: Điều chỉnh bét phun cho hạt thuốc thật mịn, đủ lượng nước 400-500 lít/ha với nồng độ theo khuyến cáo. Các lọai thuốc thông dụng hiện nay: Filia 52.5 SE, Beam 75 WP, Flash 75 WP, Fuan 40 EC, Fuji One 40 EC, Rabcide 20 SC hoặc 30 WP, Kian 50 EC, Kitazin 50 EC, Kitatigi 50 ND hoặc 10 H, Vikita 50 ND hoặc 10 H.

- Áp dụng chất kích kháng SAR3-ĐHCT do Bộ Môn Bảo vệ thực vật, Trường Đại học Cần Thơ nghiên cứu thử nghiệm khá hiệu quả với liều phun 10cc chế phẩm/ b́nh phun 8 lít nước vào 3-4 tuần đầu sau khi sạ.

PGs. Ts. Trần Văn Hai - Đại Học Cần Thơ

 

 

Địa chỉ Ban Biên tập: 

Pḥng Xúc tiến thương mại & Thông tin quảng bá , Trung tâm Khuyến nông An Giang

Số 4 Nguyễn Du, phường Mỹ B́nh, thành phố Long Xuyên, An Giang

Điện thoại : 076.954706     -   Fax : 076.856759

E-mail : ttkhuyennongag@hcm.vnn.vn