|
2. Sửa soạn đất:
Có 2
phương pháp
a. Không làm đất:
- Đối với
trồng trên nền đất lúa cần đốt gốc rạ và cỏ
trước khi gieo sạ.
- Không nên để
đất nứt nẻ. Nếu đất bị khô nên bơm nước vào để
đất mềm dễ xôm lỗ.
- Nếu gieo hạt
bằng cách tỉa lỗ, nên sử dụng chày có đường kính
2 cm, có đầu dẹp nhọn tránh làm dẽ đất khi xôm
lỗ.
- Sau khi gieo
cần phải tủ rơm, nhằm giữ độ ẩm, hạn chế cỏ dại,
giảm công tưới và hạn chế xì phèn,lượng rơm cần
tủ cho 1.000 m2 đậu là 2.000 m2
rơm.
b. Làm đất:
- Xới từ 2-3
tát cho tơi xốp, để hệ thống rễ cây đậu phát
triển tốt.
Nhưng cả 2
phương pháp này đều phải chú ý:
* Thiết kế hệ
thống thủy lợi nội đồng: Do biện pháp tưới cho
đậu nành sau này là tưới tràn, nên hệ thống
mương nội đồng phải bảo đảm đưa nước vào và rút
ra nhanh, không được đọng vũng, vì đậu là cây
trồng cạn rất dễ bị chết do úng nước.
* Thời gian từ
khi bắt đầu đưa nước vào ruộng đến khi rút ra
hết không quá 10 giờ.
* Cắt gốc rạ:
Dùng máy cắt gốc rạ rải đều trên mặt ruộng. Có
thể cắt gốc rạ trước hoặc sau khi gieo hạt, cắt
trước khi gieo thuận lợi cho việc gieo hạt bằng
công cụ sạ hàng.
3. Gieo hạt:
- Lượng hạt
giống: 70-120 kg/ha.
- Mật độ và
khoảng cách trồng: Tùy theo chiều cao cây của
giống, mùa vụ và độ phì của đất. Tuy nhiên
nguyên tắc chung để xác định mật độ là:
* Giống cao
cây phân cành nhiều thì trồng thưa.
* Đất tốt,
thâm canh trồng thưa hơn đất xấu và đất ít thâm
canh.
* Mùa nắng
trồng dầy hơn mùa mưa.
Hiện nay,
thường sử dụng 2 phương pháp gieo hạt
* Gieo hàng
với khoảng cách 40 cm x 10 cm, mỗi lổ 2-3 hạt sử
dụng 70-80 kg/ha.
* Sạ lan hoặc
kéo hàng: sử dụng 100-120 kg/ha.
4. Tưới nước:
Ngay
sau khi gieo, cần phải giữ cho đất đủ ẩm độ nhằm
bảo đảm hạt nảy mầm đều. Có thể sử dụng phương
pháp tưới tràn trên những ruộng bằng phẳng và
thoát nước tốt. Trung bình 7-10 ngày tưới 1 lần
trong mùa nắng.
5. Làm cỏ và tỉa dặm:
- Sau khi
xuống giống từ 5-7 ngày, cây đã lên khỏi mặt
đất, cần quan sát tỉa dặm lại những nơi cây
không lên để đảm bảo mật độ trồng.
- Có thể sử
dụng các loại thuốc trừ cỏ diệt mầm trước hoặc
sau khi xuống giống, như: Dual Gold, Dual,
Ronstar…Sau đó, từ 14-18 ngày sau khi gieo nếu
có cỏ (từ 3-6 lá), nên sử dụng các loại thuốc
trừ cỏ như: Onecide,
Targa Super,
Select… Chú ý những giai đoạn sau không nên sử
dụng các loại thuốc trừ cỏ, chỉ làm cỏ bằng tay.
6. Bón phân:
- Liều lượng
bón cho 1 ha: 60 kg urê + 125 kg DAP + 100 kg
NPK (20 - 20 - 15).
- Cách bón:
* 7-10 ngày
sau khi gieo hạt bón 30 kg urê + 50 kg DAP.
* 20 – 25 ngày
sau khi gieo bón 30 kg urê + 75 kg DAP.
* 40 – 45 ngày
sau khi gieo bón 100 kg NPK.
- Chú ý: Trên
những đất mới trồng đậu nành lần đầu và không áp
dụng chủng vi khuẩn nốt sần thì đậu nành sẽ
không tạo nốt sần. Vì vậy, để cây đậu nành phát
triển tốt cần bón thêm 100-150 kg urê/ha. Lượng
phân có thể được chia ra các lần bón sau:
+ Lần 1 (10
ngày sau khi gieo): ¼ lượng urê.
+ Lần 2 (30-35
NSKG): ¼ lượng urê khi cây bắt đầu trổ hoa.
+ Lần 3 (50-60
NSKG): ½ lượng urê còn lại. Tùy tình sinh trưởng
của cây đậu mà có thể sử dụng các loại phân bón
lá kết hợp với các lần phun thuốc trừ sâu.
7. Phòng trừ sâu bệnh:
a. Nhóm sâu hại:
- Dòi đục
thân:
Chủ yếu gây hại ở giai đoạn đầu từ 7 đến 15 ngày
sau khi gieo. Dòi tấn công từ lá đục lòn vào
trong thân làm chết cây. Dùng các loại thuốc
Polytrin, Kinalux, Padan …
- Sâu ăn
tạp
(sâu đàn): Thường tấn công tất cả giai đoạn của
cây đậu, nhưng quan trọng ở giai đoạn trổ hoa
trở về trước, chúng tập trung cắn phá lá và các
phần non của cây làm cây kém phát triển. Phòng
trừ bằng các loại thuốc: Karate, Sherpa,
Basudin, Abamectin …
- Rầy cánh
phấn:
Sống thành từng đàn thường tập trung ở mặt dưới
lá, chích hút nhựa cây, làm cho cây chậm phát
triển. Chúng thường gây hại nặng vào mùa nắng
trên những ruộng đậu thiếu nước kém phát triển.
Phòng trị bằng cách bón phân tưới nước đầy đủ,
giúp cây phát triển mạnh đủ sức chống chịu và có
thể dùng các loại thuốc hoá học như Hopsan,
Admire, Applaud …
- Sâu đục
trái:
Đây là đối tượng gây hại quan trọng nhất. Thường
làm thất thu năng suất nếu không phòng trị kịp
thời. Chúng thường tấn công vào giai đoạn trổ
hoa tượng trái đến khi vỏ trái cứng. Để phòng
trị tốt loại sâu này có thể dùng các loại thuốc
như Peran, Kinalux, Regent, Basudin …để phun
hoặc rải định kỳ 7-10 ngày/lần trong thời gian
chúng tập trung gây hại.
- Sâu xanh
da láng:
Phát triển mạnh trong mùa nắng (từ tháng 1-4
dương lịch) và mật số giảm khi trời mưa nhiều.
Nếu mật số cao chúng ăn trụi lá và các phần non
của cây đậu làm giảm năng suất. Loại sâu này có
tính kháng thuốc rất cao, nên trong phòng trừ
cần chú ý luân phiên thuốc và có thể dùng nhóm
thuốc chống lột xác sẽ có tác dụng cao hơn như:
Pegasus, Atabron, Match…
b. Nhóm bệnh hại:
- Bệnh rỉ
sắt
(Phakopspora pachyrhizi): Do nấm tấn công
trên lá, làm lá dễ rụng sớm, giảm khả năng quang
hợp ảnh hưởng đến năng suất. Có thể dùng các
loại thuốc gốc đồng như: Copper-zinc, Dithane,
Champion, COC 85, Tilt, Tilt Super, Folicur … để
phòng trị theo hướng dẩn trên nhãn thuốc.
- Bệnh héo
rũ:
Do nấm Rhizoctonia solani, tấn công ở tất
cả các giai đoạn của cây đậu.Thiệt hại nặng nhất
vào giai đoạn cây con từ khi gieo đến 2 tuần
tuổi. Lúc cây còn nhỏ từ 3-15 ngày sau gieo,
phần thân sát mặt đất teo tóp lại, cổ rễ và rễ
già biến thành màu nâu đỏ. Bệnh nặng làm chết
toàn bộ cả cây làm ảnh hưởng đến năng suất.
Phòng trị bằng cách trồng luân canh với các loại
cây trồng khác, chọn giống kháng, chọn mùa vụ
thích hợp, bố trí ruộng thoát nước tốt. Xử lý
hạt giống với Zineb liều lượng 100gr/10kg hạt.
Có thể dùng dung dịch phèn xanh với vôi bột tỷ
lệ 1/1 với liều lượng 30 kg/ha để xử lý đất
trước khi xuống giống. Khi thấy các triệu chứng
bệnh có thể sử dụng các loại thuốc như: Anvil,
Validacine, Bonnanza 100SL, Carbendazim,
Monceren,…
-
Bệnh đốm phấn:
Tác nhân do nấm Peronospora manshurica. Ở
điều kiện ẩm độ cao, sáng sớm có sương mù, ngày
nắng nóng bệnh dễ phát triển mạnh. Vết bệnh tấn
công chủ yếu trên lá, mặt dưới lá màu trắng. Lúc
đầu xuất hiện những đốm màu tro hình tròn, về
sau vết bệnh có hình tròn hoặc hình không rõ
rệt, màu nâu vàng, xung quanh viền nâu thẫm, có
ranh giới với phần xanh còn lại của lá Bệnh nặng
làm lá bị vàng và rụng sớm làm ảnh hưởng đến
năng suất. Phòng trị bệnh: Sử dụng giống sạch
bệnh, luân canh và sử dụng các thuốc trị bệnh
như: Folpan, Ridomil, Score, Dithan M, Antracol
…
-
Bệnh héo rũ do nấm
(Fusarium oxysporam): Đất thiếu nguyên tố
vi lượng, mặt đất thường bị đóng váng, ruộng
trồng độc canh đậu nành nhiều vụ liên tiếp.
Thường gặp ở những cây lớn, lá phía dưới vàng
trước rồi lan dần lên những lá trên. Khi chẻ dọc
thân và hệ thống dẫn nhựa của thân bị thối đen
hoặc nâu, quan sát kỹ thấy có sợi nấm li ti màu
trắng. Khi cây bệnh nặng rễ chính bị hư nên cây
mọc nhiều rễ con trên cổ rễ chính, tạo thành hệ
thống rễ chùm. Phòng trừ: Trồng xen canh hay
luân canh với các loại cây trồng khác (trừ bắp).
Xử lý hạt trước khi gieo. Xử lý thuốc: Kasuran
47WP, Kasumin 2L, Copper B75WP, Topsin 70WP,
Ridomil MZ 72WP,…
8. Thu hoạch:
- Khi cây đậu
già, toàn bộ lá sẽ chuyển sang màu vàng và rụng
dần từ dưới lên, vỏ trái cũng bắt đầu khô. Khi
ruộng đậu có 1 vài trái ở phía dưới bắt đầu tách
vỏ lúc trưa nắng, thì có thể thu hoạch được. Cắt
bó gom và đưa vào máy suốt ra hạt. Sau đó loại
bỏ các hạt sâu, mốc, tạp chất … phơi sấy đạt ẩm
độ 12 – 13% là được.
9. Phương pháp chọn giống và bảo quản giống:
- Khử lẫn
trong 3 giai đoạn: Giai đoạn cây con (5-7 ngày)
dựa vào màu gốc, và loại bỏ những cây di dạng
bệnh và xấu. Giai đoạn ra hoa (30-32 ngày tuổi),
dựa vào màu hoa và chiều cao cây, và nhổ bỏ
những cây có dạng hình khác biệt. Giai đoạn chín
dựa vào dạng trái, cách đóng trái, màu trái khi
chín, màu và dạng hạt.
- Chọn giống:
Theo tiêu chuẩn 4 tốt: ruộng tốt, cây tốt, trái
tốt và hạt tốt.
- Bảo quản
giống: Sau khi đập, lựa sạch và phơi độ một vài
nắng tốt, kinh nghiệm cho thấy hạt ở ẩm độ 7-8%
để trong mát rồi cho vào lu, khạp tồn trữ có
miệng nhỏ, dưới đáy và bên trên có 1 lớp tro củi
giúp ngăn cản sâu mọt phát triển và hút ẩm, giữ
hạt luôn luôn khô. Một phương pháp đơn giản để
tồn trữ đậu nành giống có kết quả tốt và rẻ
tiền, đó là phương pháp tồn trữ bằng túi yếm khí
của Viện Lúa ĐBSCL (sản xuất tại Việt Nam), cách
tồn trữ này có thể duy trì được 77,9% độ nảy mầm
sau 3 tháng. |