|
2.6. Tưới nước:
Có thể tưới phun,
tưới tràn và tưới rãnh. Tiến hành tưới 4 – 5
đợt/1 vụ. Lưu ý đất phải thoát nước tốt và phải
có ít nhất 1 lần tưới vào giai đoạn trổ hoa rộ
để bảo đảm năng suất.
2.7. Cỏ dại và biện pháp phòng trừ:
Trồng mè kết hợp
che phủ bằng rơm rạ có khả năng hạn chế cỏ dại.
Ngoài ra có thể sử dụng các loại thuốc trừ cỏ
như: Dual, Dual Gold, Lasso 48 EC, Gallant Super
700, Onecide 450, Nabu 12 EC, …Chú ý sử dụng
liều lượng và thời gian theo khuyến cáo của nhà
sản xuất.
2.8. Sâu bệnh hại và phòng trừ:
2.8.1. Rầy xanh:
Con trưởng thành đẻ
trứng vào mô lá, rầy non chích hút dịch làm cây
suy yếu, cây không phát triển, làm rụng nụ và
trái non, khi mật số cao sẽ làm cháy lá.
Phòng trừ: luân
canh với các loại cây trồng khác. Phun các loại
thuốc như: Bassa 50ND, Trebon 10EC, Applaud
10WP,…
2.8.2. Sâu hại:
a. Sâu sa (Sâu sừng):
Sâu
non cơ thể to mập, có nhiều ngấn ngang và có 1
gai nhọn như 1 cái sừng phía sau. Màu sắc
thay đổi từ màu xanh lá cây sang màu nâu, dài từ
7 - 8 cm.
Biện pháp phòng
trừ: Bắt sâu bằng tay, phơi đất, luân canh, dùng
bẩy chua ngọt và có thể sử dụng các loại thuốc
Lannate, Admire, Fenbis, Decis, Regent 2 lúa
xanh,…
b. Sâu khoang:
Sâu non màu xám
tro, vạch lưng màu vàng, trên đốt bụng có 1 chấm
đen lớn, khi sâu còn nhỏ khoang đen này dính với
nhau tạo thành 1 khoang đen nên gọi là sâu
khoang.
Biện pháp phòng
trừ: ngắt bỏ ổ trứng, bắt sâu , sử dụng bẫy cây
trồng, phơi đất, luân canh và có thể sử dụng các
loại thuốc hóa học như: Fastac, Lannate, Match,
Atabron, Fenbis, Decis, …
Ngoài ra còn có một số đối tượng dịch hại khác
không đáng kể là rệp bông, rệp xanh, … và áp
dụng các biện pháp phòng trừ như vệ sinh đồng
ruộng hay sử dụng các loại thuốc hóa học Admire,
Applaud, Selectron,…
2.8.3.
Bệnh hại:
Bệnh héo cây con:
Tác
nhân do nấm Rhizoctonia sp, Pythium sp,
Fusarium sp đây là bệnh hại chủ yếu trên mè.
Triệu chứng: Bệnh hại chủ yếu ở giai đoạn cây
con, phần thân cây tiếp giáp mặt đất, có vết
xanh tái sau lan rộng, vết bệnh chuyển sang màu
nâu mọng nước cuối cùng khô và teo lại, phía
trên cây héo, lá vẫn còn xanh nhưng cây con chết
hàng loạt.
-
Phòng trừ: Thu dọn tàn dư cây bệnh, bón vôi,
phơi đất, không chọn rơm rạ bị nhiễm bệnh đốm
vằn để tủ. Có thể sử dụng các loại thuốc hóa học
sau: Validacine, Anvil …
Ngoài ra, còn có 1 số bệnh khác nhưng không quan
trọng như: Thối gốc, đốm lá, đốm phấn, khảm, …
Có thể áp dụng các biện pháp như: Sử dụng giống
kháng, xử lý hạt, nhổ bỏ và tiêu hủy và sử dụng
thuốc hóa học đặc trị cho từng loại bệnh theo
khuyến cáo.
2.9. Thu hoạch và bảo quản
giống:
Tùy
theo từng loại giống mà có thời gian thu hoạch
khác nhau. Vào thời kỳ chín, quan sát đồng ruộng
thấy lá và thân mè chuyển từ màu xanh sang vàng
nhạt, sau đó chuyển sang màu vàng hơi đỏ. Những
quả gần gốc cây bắt đầu chuyển màu và có hiện
tượng nứt, khi đó ruộng mè có thể thu hoạch.
Phương pháp thu hoạch chủ yếu là bằng tay, bó
thành từng bó nhỏ có đường kính từ 10 - 15 cm và
phơi dựng đứng từ 4 – 5 nắng rồi suốt bằng máy
chuyên dụng để giảm thất thoát. Khi ra hạt xong
phải sàng sẩy cho sạch và phơi tiếp 1- 2 nắng.
Chọn giống:
chọn cây có trái nhiều,
không sâu bệnh và chọn những trái ở giữa thân
phơi cho thật khô, sàng sẩy cho sạch, rồi cho
vào bao nylon cột kín miệng bảo quản nơi thoáng
mát.
*
Tiêu chuẩn giống:
-
Độ ẩm tối đa: 8%
-
Không lẫn giống khác, sạch bệnh.
-
Hạt có màu đẹp, không lẫn tạp chất, không bị
mốc, hạt phải mẩy, đẹp, vỏ hạt sáng, không chảy
dầu, tỉ lệ nảy mầm cao. |