Kỹ thuật trồng mè

Cập nhật: 04/01/2010

I. THỜI VỤ:

Mè có thể được trồng quanh năm, nhưng thời vụ xuống giống hiệu quả nhất là vụ Xuân Hè từ tháng 2 - 3 dl (tháng 2 dl là tốt nhất).

II. KỸ THUẬT TRỒNG:

2.1. Làm đất:

Tùy thuộc vào đất đai và chế độ luân canh mà có thể áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác khác nhau.

- Không làm đất: Đối với vùng luân canh 2  lúa 1 màu thì ngay sau khi thu hoạch vụ lúa Đông Xuân, cắt rạ và đốt cho sạch, cho nước vào ruộng, sau đó rút nước khô tiến hành gieo sạ không cần làm đất và phủ rơm để giữ ẩm cho cây phát triển tốt.

- Làm đất: Đất sau khi xới 2 – 3 tát xong, dùng cuốc kéo líp rộng 1,5 – 2,0 m và cao 10 – 15cm, chừa rãnh giữa 2 líp 20 – 30 cm.

2.2. Giống:

Giới thiệu một số giống mè hiện nay

Giống

Cao cây

(cm)

TG sinh trưởng

(ngày)

Năng suất

(t/ha)

Mè  V6

120

75 - 80

0,8 - 1,3

Mè vàng

100 - 120

80

0,9 – 1,0

Mè đen

110 -120

80

1,0 -1,2

2.3. Mật độ, khoảng cách gieo:

- Sạ lan: lượng hạt giống 3,0 – 3,5 kg/ha; có thể trộn thêm cát hoặc tro trấu với hạt giống để sạ.

- Gieo theo hàng: lượng hạt giống 2,5 – 3,0 kg/ha. Khoảng cách  trồng 20 - 25 cm x 10 – 15 cm và tỉa 2 - 3 hạt/lổ.

2.4. Tỉa thưa kết hợp làm cỏ bằng tay:

Đây là công việc hết sức quan trọng quyết định năng suất mè, thường tiến hành 2 đợt: Vào 10 – 15 NSKG (ngày sau khi gieo) và 20 – 25 NSKG.

Đối với mè sạ lan tỉa thưa chừa khoảng cách 15 – 20 cm x 15 – 15 cm và đối với gieo hàng 20 – 25 cm x 12 – 15 cm.

2.5. Bón phân:

- Lượng phân bón cho 1 ha: 50 – 100 kg Urê và 300 kg NPK (20 - 20 - 15). Cách bón như sau:

Lần

Ngày bón

(ngày sau khi gieo)

Lượng phân bón (kg/ha)

Urê

NPK

1

5 - 7

25 -50

75

2

15 - 20

25 - 50

75

3

40 - 45

0

150

2.6. Tưới nước:

Có thể tưới phun, tưới tràn và tưới rãnh. Tiến hành tưới 4 – 5 đợt/1 vụ. Lưu ý đất phải thoát nước tốt và phải có ít nhất 1 lần tưới vào giai đoạn trổ hoa rộ để bảo đảm năng suất.

2.7. Cỏ dại và biện pháp phòng trừ:

Trồng mè kết hợp che phủ bằng rơm rạ có khả năng hạn chế cỏ dại. Ngoài ra có thể sử dụng các loại thuốc trừ cỏ như: Dual, Dual Gold, Lasso 48 EC, Gallant Super 700, Onecide 450, Nabu 12 EC, …Chú ý sử dụng liều lượng và thời gian theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

2.8. Sâu bệnh hại và phòng trừ:

2.8.1. Rầy xanh:

Con trưởng thành đẻ trứng vào mô lá, rầy non chích hút dịch làm cây suy yếu, cây không phát triển, làm rụng nụ và trái non, khi mật số cao sẽ làm cháy lá.

Phòng trừ: luân canh với các loại cây trồng khác. Phun các loại thuốc như: Bassa 50ND, Trebon 10EC, Applaud 10WP,…

2.8.2. Sâu hại:

a. Sâu sa (Sâu sừng):

Sâu non cơ thể to mập, có nhiều ngấn ngang và có 1 gai nhọn như 1 cái sừng phía sau. Màu sắc thay đổi từ màu xanh lá cây sang màu nâu, dài từ 7 - 8 cm.

Biện pháp phòng trừ: Bắt sâu bằng tay, phơi đất, luân canh, dùng bẩy chua ngọt và có thể sử dụng các loại thuốc Lannate, Admire, Fenbis, Decis, Regent 2 lúa xanh,…

b. Sâu khoang:

Sâu non màu xám tro, vạch lưng màu vàng, trên đốt bụng có 1 chấm đen lớn, khi sâu còn nhỏ khoang đen này dính với nhau tạo thành 1 khoang đen nên gọi là sâu khoang.

Biện pháp phòng trừ: ngắt bỏ ổ trứng, bắt sâu , sử dụng bẫy cây trồng, phơi đất, luân canh và có thể sử dụng các loại thuốc hóa học như: Fastac, Lannate, Match, Atabron, Fenbis, Decis, …      

Ngoài ra còn có một số đối tượng dịch hại khác không đáng kể là rệp bông, rệp xanh, … và áp dụng các biện pháp phòng trừ như vệ sinh đồng ruộng hay sử dụng các loại thuốc hóa học Admire, Applaud, Selectron,…

2.8.3. Bệnh hại:

Bệnh héo cây con:

Tác nhân do nấm Rhizoctonia sp, Pythium sp, Fusarium sp đây là bệnh hại chủ yếu trên mè. Triệu chứng: Bệnh hại chủ yếu ở giai đoạn cây con, phần thân cây tiếp giáp mặt đất, có vết xanh tái sau lan rộng, vết bệnh chuyển sang màu nâu mọng nước cuối cùng khô và teo lại, phía trên cây héo, lá vẫn còn xanh nhưng cây con chết hàng loạt.

- Phòng trừ: Thu dọn tàn dư cây bệnh, bón vôi, phơi đất, không chọn rơm rạ bị nhiễm bệnh đốm vằn để tủ. Có thể sử dụng các loại thuốc hóa học sau: Validacine, Anvil …

Ngoài ra, còn có 1 số bệnh khác nhưng không quan trọng như: Thối gốc, đốm lá, đốm phấn, khảm, … Có thể áp dụng các biện pháp như: Sử dụng giống kháng, xử lý hạt, nhổ bỏ và tiêu hủy và sử dụng thuốc hóa học đặc trị cho từng loại bệnh theo khuyến cáo.

2.9. Thu hoạch và bảo quản giống:

Tùy theo từng loại giống mà có thời gian thu hoạch khác nhau. Vào thời kỳ chín, quan sát đồng ruộng thấy lá và thân mè chuyển từ màu xanh sang vàng nhạt, sau đó chuyển sang màu vàng hơi đỏ. Những quả gần gốc cây bắt đầu chuyển màu và có hiện tượng nứt, khi đó ruộng mè có thể thu hoạch.

Phương pháp thu hoạch chủ yếu là bằng tay, bó thành từng bó nhỏ có đường kính từ 10 - 15 cm và phơi dựng đứng từ 4 – 5 nắng rồi suốt bằng máy chuyên dụng để giảm thất thoát. Khi ra hạt xong phải sàng sẩy cho sạch và phơi tiếp 1- 2 nắng.

Chọn giống: chọn cây có trái nhiều, không sâu bệnh và chọn những trái ở giữa thân phơi cho thật khô, sàng sẩy cho sạch, rồi cho vào bao nylon cột kín miệng bảo quản nơi thoáng mát.

* Tiêu chuẩn giống:

- Độ ẩm tối đa: 8%    

- Không lẫn giống khác, sạch bệnh.

- Hạt có màu đẹp, không lẫn tạp chất, không bị mốc, hạt phải mẩy, đẹp, vỏ hạt sáng, không chảy dầu, tỉ lệ nảy mầm cao.

Trung tâm Khuyến nông An Giang

 

Địa chỉ Ban Biên tập: 

Phòng Xúc tiến thương mại & Thông tin quảng bá , Trung tâm Khuyến nông An Giang

Số 4 Nguyễn Du, phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, An Giang

Điện thoại : 076.3954706     -   Fax : 076.3856759

E-mail : ttkhuyennong@vnn.vn