|
I. THỜI VỤ:
a. Đất cù lao ven sông:
- Vụ Đông
Xuân: Thường xuống giống khi nước lũ rút khỏi
mặt ruộng, xuống giống tập trung từ ngày 15/11
đến 15/12 dương lịch.
- Vụ Hè Thu
trồng vào tháng 4-5 dl để thu hoạch trước khi lũ
về.
b. Đất núi
(Tri Tôn, Tịnh Biên và Thoại Sơn)
- Vụ Đông
Xuân: Xuống giống từ tháng 11-12 dl (cuối mùa
mưa) nơi có nguồn nước tưới.
- Vụ Hè Thu:
Xuống giống vào đầu mùa mưa, là mùa sản xuất chủ
lực của những vùng đất này.
- Vụ Thu Đông:
Chỉ trồng ở những vùng đất cao, thoát nước tốt.
Vụ này thường cho năng suất thấp, chủ yếu sản
xuất để giống cho vụ Đông xuân.
II. ĐẤT ĐAI:
- Đất thích
hợp nhất có pH từ 5,5 – 6,5 để tạo điều kiện cho
vi khuẩn nốt sần phát triển tốt.
- Đất phải tơi
xốp, cao ráo, thoát nước nhanh để tia đậu phộng
dễ đâm vào đất.
III. KỸ THUẬT TRỒNG:
1. Giống:
+ Tiêu chuẩn
hạt giống: Không lẫn, sạch sâu bệnh. Chọn hạt
giống to, mẩy, vỏ hạt sáng, không sây sát, tỷ lệ
nảy mầm trên 90%. Hạt giống khi đem trồng phải
bảo đảm cho hạt to đều
+ Một số giống
đang sản xuất phổ biến và có triển vọng tại An
Giang:
a. Giống ĐP25
(Đột biến từ giống Sen lai):
- Thời gian
sinh trưởng: 115 – 120 ngày.
- Cây cứng, lá
to và xanh đậm.
- Chiều cao
cây từ 56 – 60 cm.
- Năng suất 25
– 30 giạ/1.000m2.
- Hạt to đều,
vỏ lụa trắng hồng, hạt ít nhăn.
b. Giống Mỏ Két:
-
Thời gian sinh trưởng: 95 – 100 ngày.
- Tỷ
lệ 3 hạt cao (chiếm 50-60 %).
- Vỏ quả có
gân nổi rõ, mỏ quả có dạng mỏ két.
- Thị trường
đang ưa chuộng.
- Năng suất
thấp: 20 giạ/1.000m2.
c. Giống MD 7:
- Chiều cao
cây 35- 40 cm, dạng thẳng đứng.
- Màu sắc thân
lá màu xanh đậm, vỏ lụa hồng nhạt.
-
Kháng bệnh héo xanh vi khuẩn.
-
Năng suất khá: 28 – 30 giạ /1.000m2.
-
Thời gian sinh trưởng: 95 – 100 ngày.
d. Giống đậu Vồ
(đậu Tàu): Nguồn gốc Đông Nam Bộ
- Trái to, vỏ
lụa màu hồng.
- Thời gian
sinh trưởng: 90 ngày.
- Dạng thân
đứng, hạt to.
- Năng suất
cao: 30 – 35 giạ/1.000 m2.
e. Giống HL 25:
- Thời gian
sinh trưởng từ 88-98 ngày.
- Dạng thân
đứng, chiều cao trung bình: 48-58 cm.
- Hạt to đều,
vỏ lụa màu trắng hồng, nhẳn, phù hợp với xuất
khẩu.
- Năng suất:
30-35 giạ/1.000m2.
- Nhiễm bệnh
gỉ sắt và đốm lá trung bình.
2. Sửa soạn đất:
- Đối với đất
núi:
*Cày và xới
cho tơi xốp đất, tùy điều kiện đất đai và mùa vụ
mà lên líp cao hay thấp.
*Chiều ngang
líp từ 1,2 – 1,5m; chiều cao líp từ 0,3 – 0,5m.
- Đối với đất
cù lao ven sông: Có thể trồng không lên líp, cứ
5-10 m đào một rãnh nhằm thoát nước tốt.
3. Cách trồng:
Không
nên bóc vỏ ra trước, chỉ bóc ra ngay khi gieo
hạt.
- Chọn giống
có tỷ lệ nảy mầm lớn hơn 90%.
- Lượng giống
tính trên 1 ha: 220 – 250 kg quả hạt khô (ẩm độ
8-9 % .
- Cách trồng:
2 cách
* Trồng theo
lỗ: Trồng 4-5 lỗ trên hàng ngang, 2-3 hạt lỗ.
Khoảng cách giữa các lỗ 20-25cm, hàng cách hàng
25–30 cm.
* Trồng rạch
hàng: Trên hàng kẻ rãnh, trồng theo rãnh 10
cm/hạt, khoảng cách giữa 2 rãnh 20–25 cm.
- Xử lý hạt
giống: 2 cách
* Gieo hạt đã
ngâm ủ: Ngâm hạt giống trong nước 3- 4 giờ ở
nhiệt độ bình thường. Đem ủ 10 -12 giờ. Khi rễ
mầm nhú ra khỏi vỏ lụa có thể trồng và đặt rễ
mầm hướng xuống đất. Xử lý hạt nảy mầm trước khi
gieo bằng BAM 5H hoặc Basudin 10H (0,5-1,0
kg/ha) + Rovral.
* Gieo trực
tiếp: Trước khi gieo, hạt giống được vẩy ướt cho
đều, sau đó đem trộn hạt giống với các loại
thuốc trên.
4. Tưới nước:
Tùy thuộc vào điều kiện đất đai và việc bố trí
mùa vụ mà chế độ tưới khác nhau. Nhưng đối với
cây đậu phộng thường áp dụng tưới phun mưa quanh
gốc là tốt nhất. Tại An Giang thường sử dụng
phương pháp tưới thấm (đất đồng bằng) và sử dụng
nước mưa (vùng đất núi) là chủ yếu. Trước khi
thu hoạch nên giảm nước tưới. Đối với các giống
đang sử dụng tại An Giang hiện nay thì 10 ngày
trước khi nhổ đậu không được tưới nước vì hạt
trong đất sẽ nảy mầm. Trước khi thu hoạch một
ngày cho nước vào ruộng đậu để khi thu hoạch nhổ
không bị đứt trái.
5. Làm cỏ và tỉa dặm cây con:
a. Trồng dặm:
Thông thường 3 -5 ngày sau khi gieo hạt mọc đều,
kiểm tra và dặm lại.
b. Làm cỏ:
- Trước hoặc
sau khi gieo hạt từ 1- 3 ngày sử dụng Dual, Dual
Gold, Ronstar trên đất trồng đậu phộng.
- Trường hợp
cây cỏ đã nảy mầm và phát triển được 3-6 lá (14
- 18 ngày sau khi gieo), có thể sử dụng các loại
thuốc trừ cỏ như: Gallant Super, Onecide, Targa
Super, Select.
- Các giai
đoạn sau đó chỉ làm cỏ bằng tay trên đất trồng
đậu phộng.
6. Bón phân:
-
Bón vôi: Canxi là chất dinh dưỡng cần chú ý
trước tiên khi trồng đậu phộng. Thiếu canxi hạt
lép nhiều, trái bị thối đen ở cuống, thân mầm bị
xám đen. Kỹ thuật cung cấp canxi cho đậu phộng ở
An Giang chủ yếu là bón vôi.
-
Lượng phân bón cho 1 ha :
*
Phân chuồng: 4 – 5 tấn
*
Vôi: 400 – 500 kg
*
Urê: 150 kg
*
Super lân: 100 – 150 kg
*
KCl: 100 – 120 kg
- Cách
bón:
* Bón
lót:
Toàn
bộ phân chuồng + Vôi + KCl + ½ Super Lân + 1/3
Urê + Thuốc trừ mối, kiến + dế.
* Bón
thúc:
+
Lần 1: 10-15 ngày sau khi gieo (cây được 2-3 lá
kép) bón 1/3 urê.
+ Lần 2: 25-30
ngày sau khi gieo (cây được 2-3 lá kép) bón 1/3
urê + ½ Super Lân. Ngoài ra có thể sử dụng phân
bón lá kết hợp với các lần phun thuốc trừ sâu.
7. Phòng trừ sâu bệnh:
a. Trước khi gieo:
Nên xử lý hạt giống bằng các loại thuốc trừ nấm
phổ rộng như Mancozeb, Rovral để hạn chế chết
cây con.
b. Khi gieo hạt:
Hạt
giống có thể bị chuột, kiến, mối … ăn phá. Nên
sau khi lấp hạt có thể rãi thuốc xua đuổi như
BAM, Basudin … Ngoài ra, các loại thuốc này cũng
trừ được sâu đất, sâu keo tấn công khi cây vừa
mọc khỏi mặt đất.
c. Giai đoạn cây con đến cây bắt đầu ra
hoa:
- Nhóm sâu ăn lá:
Có ba
loài chính thường gặp là: Sâu keo, sâu xanh, sâu
đục lá … Ba loài này nếu mật số dưới 2 con/cây
thì không cần xử lý. Vì trong giai đoạn này cây
tiếp tục ra lá mới, có khả năng bù đắp những lá
đã bị thiệt hại. Nếu mật số cao có thể sử dụng
các loại thuốc như: Match, Pegasus, Amate,…
- Nhóm chích hút:
Có 3 loài thường gặp là bọ trĩ, nhện đỏ, rầy
mềm. Điều kiện khô hạn rất thích hợp với các
loài này. Để phòng trừ nhóm này không để ruộng
khô hạn, cần quan sát dưới mặt lá để phát hiện
sớm. Đối với nhện đỏ dùng thuốc trị như
Nissorun, Comite, Nhện và bọ trĩ có thể dùng
Confidor, Admire, Actara, …và phải luân phiên
thuốc.
- Nhóm bệnh cây:
* Bệnh đốm lá:
+ Đốm nâu:
Còn gọi là đốm
lá sớm, trên lá vết bệnh màu nâu, thường xuất
hiện trên lá non.
+ Đốm đen:
trên lá vết bệnh tròn màu đen thường nằm rìa
ngoài mặt lá. Bệnh có thể xuất hiện sớm 3-5 tuần
sau khi gieo. Bệnh phát triển mạnh khi nhiệt độ
và ẩm độ cao. Bệnh nặng làm giảm sự quang hợp và
rụng lá. Khi bệnh chớm xuất hiện có thể phun các
loại thuốc như Benomyl, Carbendazim
* Bệnh gỉ sắt:
+ Triệu chứng:
Bệnh phát sinh chủ yếu trên lá, đôi khi có trên
cuống lá, thân, tia quả. Vết bệnh là các mụn nhỏ
màu vàng cam ở dưới các mặt lá, bệnh nặng làm lá
khô vàng và rụng đi. Bệnh do nấm gây ra, có thể
hại trên tất cả giai đoạn sinh trưởng của cây.
Khi chớm bệnh có thể phun: Daconil, Dithane M45,
Bavistin …
d. Trong giai đoạn cây ra hoa đến thu
hoạch:
Đây là giai
đoạn quan trọng nhất, giai đoạn này cũng thường
gặp các loại sâu bệnh như ở giai đoạn từ cây con
đến bắt đầu ra hoa.
Quả đậu phộng
trong đất có thể bị thiệt hại do:
* Mối:
Ăn phần vỏ quả hoặc đục vào quả, làm cho các
loại nấm có điều kiện xâm nhập vào làm hư hạt.
* Bệnh thối quả
(do nấm Pythium miriotylum) khi cây có
quả, nấm xâm nhập vào làm thối tia và vỏ quả.
Biện pháp ngăn ngừa: ruộng cần thoát nước tốt,
không bị ngập úng …
Ngoài ra trên
đậu phộng còn xuất hiện bệnh đậu đực. Cây bị
bệnh thường lùn, lá có màu vàng trong khi gân lá
còn xanh, lá dày, nhỏ , dòn, lá cong queo, đầu
lá nhọn. Cây sẽ không ra hoa, hoặc nếu ra hoa
cũng không đậu trái. Bệnh xuất hiện nặng trong
thời kỳ khô hạn do rầy và rệp là môi giới truyền
bệnh. Phòng trừ rầy và rệp bằng các loại thuốc
Supracide, Mospilan 3EC,...
8. Thu hoạch:
- Thu hoạch:
Khi thấy lá trở màu nên nhổ 1 vài bụi để quan
sát, nếu thấy 2/3 số trái đã già thì nên thu
hoạch ngay. Nếu bán ăn tươi nên thu hoạch sớm
hơn từ 10-15 ngày.
9. Chọn giống và bảo quản:
- Chọn giống:
Đậu phộng là cây tự thụ, do vậy có thể dùng để
giống cho vụ sau. Chọn giống theo nguyên tắc 4
tốt:
* Chọn giống
tốt: Chỉ chọn những giống đậu phộng thích hợp
với ruộng giống của mình.
* Chọn ruộng
tốt: Ít lẫn tạp.
* Chọn khoảnh
ruộng tốt: Đồng đều, tốt nhất ruộng.
* Chọn cây
tốt: Chọn những cây tốt nhất, những cây củ ít
thì loại bỏ.
- Bảo quản: Là
cây có dầu nên rất mau mất sức nảy mầm, bảo quản
trong dụng cụ kín (bao poly ethylen, lu, vại),
phơi 3 tháng/lần thì ít ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy
mầm. Quả đậu phộng phải được phơi thật khô, ẩm
độ trong hạt khoảng 10-12%. Chú ý, chỉ lấy những
quả già để làm giống. Khi phơi làm giống, trái
đậu phộng phải lắc kêu và khi tách ra vỏ lụa
phải dể tróc. Bao chứa đậu không để tiếp xúc
trực tiếp với mặt đất.
*Lưu ý:
- Không nên
trồng đậu liên tiếp qua nhiều vụ trên cùng 1
mảnh đất sẽ làm giảm năng suất.
- Không nên
luân canh đậu phộng với các cây họ đậu khác,
khoai lang, cà ớt … để tránh lây lan bệnh. |