|
Tên khác : Na
Tên tiếng Anh : Custard apple
Nguồn gốc từ Châu Mỹ nhiệt đới. Có nhiều
loài, nhưng phổ biến:
Măng cầu ta (Annona suamosa). Tên
tiếng Anh: Sweetsop, Sugar apple, anon. Tên tiếng Pháp:
pomme cannelle
Măng cầu xiêm (Annona muricata) Tên
tiếng Pháp: corossolier
Điều kiện canh tác
Thích hợp khí hậu nhiệt đới, tuy nhiên trồng
được ở cả vùng nóng, vùng nóng có mùa đông lạnh, vùng Á
nhiệt đới.
Măng cầu ta ưa mọc giữa trời nắng hay ít
nắng che. Gặp thời tiết lạnh hay khô hạn kéo dài cũng bị
rụng lá, tuy không chết nhưng trái sẽ không nhiều và không
lớn. Thích hợp nhất trên loại đất phù sa. Đất nhiều vôi và
magiê (Mg) trái to và ngọt hơn.
Riêng Măng cầu xiêm,yêu cầu khí hậu nóng hơn
măng cầu ta, không trồng được ở các vĩ tuyến hơi cao. Do đó,
Ở Việt Nam, măng cầu xiêm chỉ trồng nhiều ở Miền Nam, ra tới
phía bắc Nha Trang th́ ít gặp. (Vũ Công Hậu - Trồng cây ăn
quả ở Việt Nam)
Tất cả các loài măng cầu đều có thể trồng
được trên các loại đất, kể cả đất xấu. Chịu được hạn nhưng
không chịu úng.
Cách trồng
Măng cầu có nhiều cách trồng. Thường trồng
bằng phương pháp nhân giống vô tính như ghép (tháp). Riêng
đối với măng cầu xiêm, c̣n dùng phương pháp ghép với gốc
b́nh bát, để tăng khả năng chịu ngập. Do đặc tính vùng đồng
bằng sông Cửu long, thường ngập 6 tháng vào mùa lũ. B́nh bát
cùng một họ với măng cầu. măng cầu xiêm ghép b́nh bát, trái
to hơn nhưng độ ngọt thấp hơn.
Măng cầu ta trồng với khoảng cách 5-7mét. Có
thể thời gian đầu, trồng dày, sau đó, khi cho trái ổn định,
tỉa dần. Thời gian 3-4 năm, cây cho trái. Trái nhỏ hơn măng
cầu xiêm nhưng đậu trái nhiều, trung b́nh mỗi cây cho 50
trái một năm. Cá biệt có cây cho cả trăm trái. Thường trái
không chín cùng một lúc trên cây. Trái ngọt và dai hơn măng
cầu xiêm, thời gian ra trái nhanh hơn, do đó mau cho thu
hồi vốn đối với các nhà vườn.
Măng cầu xiêm trồng với khoảng cách 3,5mét.
sau 2 năm cho trái, trái to hơn măng cầu ta nhưng đậu trái
thấp, trái nhiều nước nhưng hàm lương đường ít, chứa nhiều
acid, giá trị calo cũng thấp hơn măng cầu ta . Tỷ lệ thịt
phần ăn được) trên trái là 70%. Trong khi ở măng cầu ta chỉ
có 45%.
Phân bón và chăm sóc
Phữu cơ (như
phân chuồng, phân xanh,….): Khi đặt cây trồng, nên trộn
phân bón cho đất, liều lượng 20-30kg/gốc. Sau đó, chỉ bón
thêm vào mỗi đợt sau thu hoạch trái, cây càng lớn, lượng bón
càng tăng.
Phân hóa học như NPK ( loại 16-16-8) khoảng
50gram cho mỗi cây, vào mỗi tháng, tăng cường thêm một lượng
ít Magiê (Mg). Sau khi đậu trái, cần tăng cường phân kali,
b́nh quân 30-50gram cho mỗi cây. Cách bón: Ḥa tan phân v2o
thùng, tưới gốc. Phân chuồng có thể đào gốc ở mép tán cây,
rănh sâu 15-20cm, chú ư không làm đứt rễ, . Bón xong, lấp
đất và tưới nước.Phân vi lượng có thể phun lến lá. nên pha
nhiều nước, phun đều 2 mặt lá. Nên bón vào chiều mát, tránh
bón vào lúc nắng gắt.Vào mùa nắng, thường xuyên tưới nước
cho cây. Khi cây lớn, tỉa bỏ những nhánh già, nhánh nhỏ dài,
nhánh cổi.
Tăng đậu trái
Tỷ lệ đậu trái măng cầu xiêm thấp, một nguyên
nhân do thụ phấn tự nhiên kém hiệu quả. Do đó thường gặp
những trái măng cầu xiêm có h́nh dáng ít đều đặn. Phần được
thụ phấn múi có hạt th́ no tṛn, ph́nh ra. Phần không được
thụ phấn th́ múi không có hạt, không phát triển được, vỏ
phía ngoài co lại. hoa nở đợt đầu thường bị rụng, trường hợp
này do đặc tính sinh lư của loài. Khắc phục bằng cách thụ
phấn nhân tạo như sau: Hoa nở ở gần ngọn các cành hoặc trên
cành nhỏ thường không đậu trái. Ngắt các hoa này, dùng phấn
thụ bổ sung cho các hoa khác trên cành. Công việc nên thực
hiện vào buổi chiều, ngắt các hoa này để vào chổ khô mát,
trong những túi giấy. Sáng hôm sau, đổ hoa ở túi giấy ra,
dĩa khô, gắp bỏ các cánh hoa , bao phấn ra, chỉ chừa lại các
hạt phấn. Phấn tốt khi có màu kem. nếu màu nâu nhạt hay màu
đen là phấn hư, không dùng được. Dùng bút lông hoặc cọ nhúng
phấn hoa phủ vào các hoa măng cầu. Thường một hoa, có thể
thụ phấn bổ sung cho 6 -8 hoa . Thời gian thụ phấn bổ sung
tốt nhất vào khoảng 8 -9 giờ sáng. Có thể lặp lại công việc
sau 4 ngày.
Hiện tượng rụng lá và rụng trái: Đất không đủ
ẩm. Thiếu phân bón. Khắc phục: tưới nước đủ ẩm, bón phân,
tăng cường phân hữu cơ, phân vi lượng, chọn giống tốt.
Sâu bệnh
- Rệp sáp, rệp mềm, ruồi đục trái: Bi 58 40
EC(Dimethoate), 1,0-1,5 lít/ ha (pha 25-30 ml/ b́nh 8 lít),
mía: 1,5-2,0 lít/ ha (pha 30-40 ml/ b́nh 8 lít), Phun với
lượng nước 500-600 lít/ ha, phun ướt đều thân, lá cây, Ngừng
phun thuốc trước khi thu hoạch 14 ngày. Thuốc độc với cá,
động vật thuỷ sinh, ong mật và thiên địch
Trừ rệp sáp, có thể dùng Difluent 25
WP(Buprofezin), 0,6-0,8 kg/ ha Pha thuốc với 400-600 lít
nước, phun đều cho 1 ha Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch
14 ngày Không phun thuốc khi trời nắng gắt hoặc mưa to .
- Bệnh thán thư do nấm Colletotrichum
gloeosporivides : Binhnavil 50 SC (Carbendazim): 0,4-0,5
kg/ ha Pha thuốc với 600-800 lít nước phun đều cho 1 ha,
phun ướt đều lá, thân cây Ngừng phun thuốc trước khi thu
hoạch: 20 ngày Không phun thuốc khi trời nắng gắt hoặc mưa
to. KS Lê Thiện Tùng, Trung tâm
Khuyến nông An Giang |