TÀI LIỆU KỸ THUẬT

 

Bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá

Cập nhật: 22/3/2006

Bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá là hai loại bệnh nguy hiểm cho cây lúa.  Theo kết quả nghiên cứu của các Nhà khoa học Trường Đại học Cần Thơ , bệnh do siêu vi trùng (virus) gây ra. Bệnh này được lan truyền thông qua tuyến nước bọt của con rầy nâu (Nilaparvata lugens) bằng cách rầy nâu chích hút nhựa của cây lúa đã bị bệnh, virus trong cây bệnh sẽ được lưu giữ trong tuyến nước bọt của rầy, đến khi rầy chích hút cây lúa khỏe (chưa bị bệnh) chúng sẽ truyền virus cho cây khỏe làm cho cây này bị nhiễm bệnh (giống như cách truyền bệnh sốt rét ở người của con muỗi Anopheles cái). Bệnh không lan truyền qua đất, nước, hạt giống và không khí. Đây là một bệnh do virus gây ra nên chưa có thuốc để chữa trị. Vì thế phòng ngừa là biện pháp chính để hạn chế tác hại của bệnh.

 

Triệu chứng của bệnh vàng lùn

"Bệnh vàng lùn" chính là "bệnh lúa cỏ dòng 2" (Rice grassy stunt strain 2 disease). Hiện nay các nhà chuyên môn ở nước ta gọi là "bệnh vàng lùn cây lúa".

Trên ruộng, bệnh thường xuất hiện riêng lẻ ở từng bụi lúa. Trong một bụi lúa mắc bệnh thường cũng chỉ có một vài tép lúa (dảnh lúa) bị hại, còn các tép khác vẫn phát triển bình thường. Tuy nhiên cũng có trường hợp tất cả các tép lúa trong một bụi đều bị nhiễm bệnh, thậm chí bị chết rụi đi.

 Trên tép lúa bị bệnh, lá lúa từ màu xanh chuyển dần sang màu xanh nhạt rồi vàng nhạt, vàng cam và sau này là vàng chết khô. Lá dưới gốc bị vàng trước rồi lan dần lên các lá phía trên.

 Trên lá bệnh, màu vàng bắt đầu từ chóp lá lan dần xuống phía dưới. Phần tiếp giáp giữa màu vàng và màu xanh lục của lá không có ranh giới rõ rệt. Trong khi phiến lá bị vàng thì gân lá vẫn còn xanh. Khi phần màu vàng lan xuống đến gần bẹ thì chóp lá bắt đầu khô và cuốn lại, sau đó cháy khô cả lá, nếu bệnh lan đến lá trên cùng thì cả tép lúa bị chết khô.

Khi bệnh xuất hiện thì tép lúa bị bệnh không tiếp tục phát triển chiều cao nữa, vì thế tép lúa bị lùn đi so với những tép không bị bệnh ở xung quanh. Mức độ lùn nhiều hay ít còn tùy thuộc vào thời gian xuất hiện của bệnh sớm hay trễ. Nếu bệnh xuất hiện sớm từ khi cây lúa còn nhỏ thì cây lúa sẽ bị lùn nhiều, chậm phát triển và chết dần, nếu bệnh xuất hiện trễ khi cây lúa đã qua giai đọan tăng trưởng thì cây lúa bị lùn ít hoặc không bị lùn, sau này cây lúa có thể bị trổ nghẹn và lép nhiều.

 

Triệu chứng của bệnh lùn xoắn lá

Các lá có màu xanh thẫm, dần về sau chuyển sang hơi vàng. Lá lúa ngắn, dầy, xanh đậm, rách bìa, có nhiều đốm nâu nhỏ, trên bẹ và phiến lá nhất là vùng gần cổ lá các gân lá bị phồng lên làm cho lá bị xoắn và bất thường, lá xoắn xuất hiện từ trên chóp lá xuống và xoắn theo chiều ngược chiều kim đồng hồ. Mức độ xoắn của lá nhiều hay ít tùy theo mức độ nhiễm bệnh nặng hay nhẹ. Cây lúa nhiễm bệnh lúc còn nhỏ, mép lá bị nhăn, và lá có thể bị rách, còn khi cây lúa lớn lá bị ngắn, xoắn lại, có nhiều nhánh mọc ở đốt.

Cây lúa bị lùn lại, mức độ lùn nhiều ít tùy theo thời điểm nhiễm bệnh, nếu nhiễm sớm cây lúa thấp hơn một nửa.Thân cây dầy, cứng, thường đâm chồi và rễ ở những đốt trên. Bông bị nghẹn, xoắn vặn, hạt có nhiều đốm nâu, lép lửng. Cây lúa trổ muộn hơn cây lúa khoẻ, có khi đến 20 ngày. Lúa chét thường nhiễm nặng, nếu lúa chính vụ đã nhiễm.

Ngoài lúa, ký chủ phụ: cỏ lồng vực, cỏ đuôi chuồn.

Cây bị bệnh nặng thường thì không hấp thu được dinh dưỡng từ đất, có thể bị lụi và không trổ bông được. Nếu bị bệnh nhẹ và muộn có thể trổ bông nhưng thường trổ không thoát hết và có nhiều hạt lép.

Rầy nâu có thể mang nhiều virus gây bệnh, nên có thể xảy ra hiện tượng bội nhiễm thể hiện hai, ba bệnh cùng lúc trên cây lúa. Khi lúa bị vàng lùn và lùn xoắn lá cùng lúc, lá lúa có màu vàng và xanh rất đậm, chồi lúa bị lùn, lá ngắn mọc thun đầu lại, một số lá bị xoăn và bị rách, góc lá bẹt ra 45 độ. Nhiệt độ thích hợp truyền bệnh: 25 - 260C. Đây là nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của rầy nâu.

Thời vụ và mùa vụ cũng ảnh hưởng khá rõ rệt đến quá trình gây hại. Thường nặng nhất trong vụ Hè Thu.

 Bón nhiều lượng phân đạm, và bón không cân đối hàm lượng đạm - lân - kali (N - P - K), cũng làm cho bệnh phát triển nặng thêm. Ở lúa sạ, bệnh xảy ra nặng hơn lúa cấy.

Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Huỳnh, Bộ môn Bảo vệ thực vật, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng -Trường Đại học Cần Thơ cho biết, nếu mật số rầy thấp và chế độ dinh dưỡng trong cây lúa không cao thì rầy có thể phát triển nhưng rất chậm.  Nhưng nếu rầy tấn công cây lúa vào giai đoạn làm đòng, trỗ và đang ngậm sữa, có nghĩa là thời gian tất cả các dưỡng liệu trong cây lúa đang di chuyển từ lá sang bông, khi rầy chích hút vào bất cứ chỗ nào trên cây lúa thì cũng có nguồn dưỡng liệu rất tốt để nó phát triển, do đó khả năng nó phát triển rất nhanh. Khi cây lúa đã ngậm sữa, lá vàng sắp chín , lúc này rầy hết thức ăn. Nó sẽ di chuyển đi hoặc rầy non sẽ chết.

 

Biện pháp phòng trị

Sử dụng giống kháng bệnh, kháng rầy. Gieo cấy với mật độ vừa phải.

Ngoài việc chủ động xử lý hạt giống ngay từ đầu vụ, để hạn chế sự tấn công của rầy nâu trong giai đoạn đầu, cần thường xuyên quan sát đồng ruộng để phát hiện sớm rầy trưởng thành ở giai đoạn lúa từ 20 ngày trở về sau. Tuy rầy trưởng thành ít gây hại trực tiếp cây lúa vào lúc này nhưng chúng lại có khả năng truyền virus gây bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá.

Những ruộng lúa thu hoạch muộn sẽ là nơi rầy cư ngụ và là nguồn lây sang những ruộng vừa xuống giống vụ mới. Chỉ cần với mật số 1-2 con rầy trưởng thành trên 1 tép lúa thì sự truyền bệnh trở nên quan trọng, nhất là đối với ruộng lúa sinh trưởng kém do độc chất hữu cơ. Do đó nên luân canh, sắp xếp mùa vụ hợp lý. Gieo cấy đúng thời vụ.

Bón phân cân đối hợp lý.

Dùng thuốc tiêu diệt rầy: Sherpa, Bassa, Applaud

Biện pháp hữu hiệu nhất hiện nay vẫn là áp dụng "3 Giảm 3 Tăng"

Lê Thiện Tùng,Trung tâm Khuyến nông An Giang

Theo tài liệu kỹ thuật trường ĐHCT

 

 

Địa chỉ Ban Biên tập: 

Phòng Xúc tiến thương mại & Thông tin quảng bá , Trung tâm Khuyến nông An Giang

Số 4 Nguyễn Du, phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, An Giang

Điện thoại : 076.954706     -   Fax : 076.856759

E-mail : ttkhuyennongag@hcm.vnn.vn