|
Bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá là
hai loại bệnh nguy hiểm cho cây lúa. Theo kết
quả nghiên cứu của các Nhà khoa học Trường Đại học Cần Thơ , bệnh do
siêu vi trùng (virus) gây ra. Bệnh này được lan truyền thông qua tuyến
nước bọt của con rầy nâu (Nilaparvata lugens) bằng cách rầy nâu chích
hút nhựa của cây lúa đã bị bệnh, virus trong cây bệnh sẽ được lưu giữ
trong tuyến nước bọt của rầy, đến khi rầy chích hút cây lúa khỏe (chưa
bị bệnh) chúng sẽ truyền virus cho cây khỏe làm cho cây này bị nhiễm
bệnh (giống như cách truyền bệnh sốt rét ở người của con muỗi Anopheles
cái). Bệnh không lan truyền qua đất, nước, hạt giống và không khí. Đây
là một bệnh do virus gây ra nên chưa có thuốc để chữa trị. Vì thế phòng
ngừa là biện pháp chính để hạn chế tác hại của bệnh.
Triệu chứng của bệnh vàng lùn
"Bệnh vàng lùn" chính là "bệnh lúa
cỏ dòng 2" (Rice grassy stunt strain 2 disease). Hiện nay các nhà chuyên
môn ở nước ta gọi là "bệnh vàng lùn cây lúa".
Trên ruộng, bệnh thường xuất hiện
riêng lẻ ở từng bụi lúa. Trong một bụi lúa mắc bệnh thường cũng chỉ có
một vài tép lúa (dảnh lúa) bị hại, còn các tép khác vẫn phát triển bình
thường. Tuy nhiên cũng có trường hợp tất cả các tép lúa trong một bụi
đều bị nhiễm bệnh, thậm chí bị chết rụi đi.
Trên tép lúa bị bệnh, lá lúa từ
màu xanh chuyển dần sang màu xanh nhạt rồi vàng nhạt, vàng cam và sau
này là vàng chết khô. Lá dưới gốc bị vàng trước rồi lan dần lên các lá
phía trên.
Trên lá bệnh, màu vàng bắt đầu từ
chóp lá lan dần xuống phía dưới. Phần tiếp giáp giữa màu vàng và màu
xanh lục của lá không có ranh giới rõ rệt. Trong khi phiến lá bị vàng
thì gân lá vẫn còn xanh. Khi phần màu vàng lan xuống đến gần bẹ thì chóp
lá bắt đầu khô và cuốn lại, sau đó cháy khô cả lá, nếu bệnh lan đến lá
trên cùng thì cả tép lúa bị chết khô.
Khi bệnh xuất hiện thì tép lúa bị
bệnh không tiếp tục phát triển chiều cao nữa, vì thế tép lúa bị lùn đi
so với những tép không bị bệnh ở xung quanh. Mức độ lùn nhiều hay ít còn
tùy thuộc vào thời gian xuất hiện của bệnh sớm hay trễ. Nếu bệnh xuất
hiện sớm từ khi cây lúa còn nhỏ thì cây lúa sẽ bị lùn nhiều, chậm phát
triển và chết dần, nếu bệnh xuất hiện trễ khi cây lúa đã qua giai đọan
tăng trưởng thì cây lúa bị lùn ít hoặc không bị lùn, sau này cây lúa có
thể bị trổ nghẹn và lép nhiều.
Triệu chứng của bệnh lùn xoắn lá
Các lá có màu xanh thẫm, dần về sau chuyển sang hơi vàng.
Lá lúa ngắn, dầy, xanh đậm, rách bìa, có nhiều đốm nâu nhỏ, trên bẹ và phiến lá nhất là vùng gần cổ lá các gân lá bị phồng lên
làm cho lá bị xoắn và bất thường, lá xoắn xuất hiện từ trên chóp lá
xuống và xoắn theo chiều ngược chiều kim đồng hồ. Mức độ xoắn của lá
nhiều hay ít tùy theo mức độ nhiễm bệnh nặng hay nhẹ. Cây lúa nhiễm bệnh
lúc còn nhỏ, mép lá bị nhăn, và lá có thể bị rách, còn khi cây lúa lớn
lá bị ngắn, xoắn lại, có nhiều nhánh mọc ở đốt.
Cây lúa bị lùn lại, mức độ lùn
nhiều ít tùy theo thời điểm nhiễm bệnh, nếu nhiễm sớm cây lúa thấp hơn
một nửa.Thân cây dầy, cứng, thường đâm chồi và rễ ở những đốt trên. Bông
bị nghẹn, xoắn vặn, hạt có nhiều đốm nâu, lép lửng. Cây lúa trổ muộn hơn
cây lúa khoẻ, có khi đến 20 ngày. Lúa chét thường nhiễm nặng, nếu lúa
chính vụ đã nhiễm.
Ngoài lúa, ký chủ phụ: cỏ lồng
vực, cỏ đuôi chuồn.
Cây bị bệnh nặng thường
thì không hấp thu được dinh dưỡng từ đất, có thể bị lụi và không trổ
bông được. Nếu bị bệnh nhẹ và muộn có thể trổ bông nhưng thường trổ
không thoát hết và có nhiều hạt lép.
Rầy nâu có thể mang nhiều virus
gây bệnh, nên có thể xảy ra hiện tượng bội nhiễm thể hiện hai, ba bệnh
cùng lúc trên cây lúa. Khi lúa bị vàng lùn và lùn xoắn lá cùng lúc, lá
lúa có màu vàng và xanh rất đậm, chồi lúa bị lùn, lá ngắn mọc thun đầu
lại, một số lá bị xoăn và bị rách, góc lá bẹt ra 45 độ.
Nhiệt độ thích hợp truyền bệnh: 25 - 260C. Đây là nhiệt độ thích hợp cho
sự phát triển của rầy nâu.
Thời vụ và mùa vụ cũng ảnh hưởng
khá rõ rệt đến quá trình gây hại. Thường nặng nhất trong vụ Hè Thu.
Bón nhiều lượng phân đạm, và bón
không cân đối hàm lượng đạm - lân - kali (N - P - K), cũng làm cho bệnh
phát triển nặng thêm. Ở lúa sạ, bệnh xảy ra nặng hơn lúa cấy.
Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Huỳnh, Bộ
môn Bảo vệ thực vật, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng -Trường Đại
học Cần Thơ cho biết, nếu mật số rầy thấp và chế độ dinh dưỡng trong cây
lúa không cao thì rầy có thể phát triển nhưng rất chậm. Nhưng nếu
rầy tấn công cây lúa vào giai đoạn làm đòng, trỗ và đang ngậm sữa, có
nghĩa là thời gian tất cả các dưỡng liệu trong cây lúa đang di chuyển từ
lá sang bông, khi rầy chích hút vào bất cứ chỗ nào trên cây lúa thì cũng
có nguồn dưỡng liệu rất tốt để nó phát triển, do đó khả năng nó phát
triển rất nhanh. Khi cây lúa đã ngậm sữa, lá vàng sắp chín , lúc này rầy
hết thức ăn. Nó sẽ di chuyển đi hoặc rầy non sẽ chết.
Biện pháp phòng trị
Sử dụng giống kháng bệnh, kháng
rầy. Gieo cấy với mật độ vừa phải.
Ngoài việc
chủ động xử lý hạt giống ngay từ đầu vụ, để hạn chế sự tấn công của rầy
nâu trong giai đoạn đầu, cần thường xuyên quan sát đồng ruộng để phát
hiện sớm rầy trưởng thành ở giai đoạn lúa từ 20 ngày trở về sau. Tuy rầy
trưởng thành ít gây hại trực tiếp cây lúa vào lúc này nhưng chúng lại có
khả năng truyền virus gây bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá.
Những ruộng lúa
thu hoạch muộn sẽ là nơi rầy cư ngụ và là nguồn lây sang những ruộng vừa
xuống giống vụ mới. Chỉ cần với mật số 1-2 con rầy trưởng thành trên 1
tép lúa thì sự truyền bệnh trở nên quan trọng, nhất là đối với ruộng lúa
sinh trưởng kém do độc chất hữu cơ.
Do đó nên luân canh, sắp xếp mùa vụ hợp lý. Gieo cấy đúng thời vụ.
Bón phân cân đối hợp lý.
Dùng thuốc tiêu diệt rầy: Sherpa,
Bassa, Applaud
Biện pháp hữu hiệu nhất hiện nay
vẫn là áp dụng "3 Giảm 3 Tăng" |