|
Xin Ban Biên tập Website - Trung tâm
Khuyến nông hướng dẫn quy tŕnh bón phân cho lúa ngắn ngày.
Khanh - E-mail:
hckhanh@yahoo.com.vn, Điện thoại: 0944657444
Bón phân cho lúa là một trong nhiều biện pháp
để gia tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế. Để sản
xuất lúa đạt yêu cầu, cần áp dụng quy tŕnh thâm canh tổng
hợp. Từ việc bố trí lịch thời vụ, làm đất, chọn loại giống
phù hợp, chất lượng giống đảm bảo, gieo sạ thưa hay sạ hàng,
hoặc cấy, pḥng trừ sâu bệnh, điều khiển mực nước, thu hoạch
đúng độ chín, phơi sấy đúng kỹ thuật, ... và kỹ thuật bón
phân.
Bón phân cho lúa nhằm cung cấp dinh dưỡng để
đạt năng suất cao, duy tŕ độ ph́ của đất, cải tạo đất. Bón
phân cần dựa vào dinh dưỡng của cây, đặc điểm của đất, thời
tiết, khí hậu. Cần bón cân đối giữa hữu cơ và vô cơ, đa
lượng, vi lượng, phân bón gốc và phân bón lá,...
Quan điểm hiện nay của nhà khoa học là không
khuyến cáo một công thức phân, thời gian bón, số lượng, số
lần bón... mà chỉ có một số lời khuyên khi sử dụng phân vô
cơ (phân hóa học):
Thời vụ:
-Vụ Đông Xuân là vụ chính, nắng tốt, ít mưa,
cây quang hợp tốt, cho năng suất cao nếu đầu tư phân hợp lư.
-Vụ Hè Thu: mưa nhiều, dễ đỗ ngă, sâu bệnh
nhiều, cần hạn chế phân đạm
-Vụ Thu Đông: Tùy đất, tùy giống, có thể bón
phân như vụ Đông Xuân
Giống:
Giống ngắn ngày hiện nay đa số từ 85-105
ngày, do đó cách bón phân cho mỗi loại cũng khác nhau, đặc
biệt là giai đoạn đón đ̣ng (bón tống). Thông thường bón giai
đoạn thúc 1 (giai đoạn mạ): 7-10 ngày, chủ yếu bón đạm. Giai
đoạn đẻ nhánh (18-25 ngày): đạm và lân. Giai đoạn đ̣ng trổ:
đạm và kali. Nên quan sát t́nh trạng của cây để quyết định
số lượng và ngày bón (không ngày, không số) và nên sử dụng
bảng so màu lá lúa để quyết định lượng phân đạm. Tùy loại
giống có đáp ứng nhiều hay ít phân mà quyết định số lượng.
Kỹ thuật canh tác:
Nên sạ thưa, sạ hàng hoặc cấy. Nên áp dụng
nặng đầu nhẹ đuôi. Khi bón phân cần giữ mực nước 3-5cm trên
ruộng để tránh mất phân. Kiểm tra bờ đê tránh ṛ rỉ nước.
Cần tránh bón phân khi lúa đang nhiễm bệnh (đặc biệt là phân
đạm), sau khi xử lư hết bệnh, vết bệnh khô mới bón phân.
Đất:
Tùy vùng đất là đất cồn ven sông, đất thịt,
đất phèn nhẹ, phèn trung b́nh, phèn nặng để quyết định. Đất
canh tác 2 vụ, đất 3 vụ lúa, đất 2 lúa 1 màu xử lư khác
nhau. Trên cùng mảnh ruộng, có nơi g̣ nơi trũng dựa vào kinh
nghiệm để bón. Môt số nông dân giỏi khi bón phân chừa lại
một ít của mỗi lần bón, sau 2-3 ngày bón vá áo để đảm bảo cả
quần thể ruộng nhận dinh dưỡng đồng đều như nhau.
Loại và lượng phân bón:
Số liệu sau đây chỉ mang tính chất tham khảo,
bởi v́ loại phân và lượng phân khi bón cho lúa tùy thuộc vào
các điều kiện như: đất đai, giai đọan sinh trưởng, mùa vụ,
giống, màu sắc cây, t́nh h́nh sâu bệnh, thời tiết ... mà
quyết định.
Vụ Đông Xuân:
Có thể áp dụng công thức: 90–100 N – 40-60 P2O5
– 30-40 K2O.
Vụ Hè Thu: Có
thể áp dụng công thức: 80-90 N – 50-60 P2O5
– 30-40 K2O.
Vụ Thu Đông:
Áp dụng công thức phân bón tương tự như vụ Đông Xuân.
Công thức trên để tính các nguyên tố đa lượng
nguyên chất trên mỗi ha cần cung cấp.
Tùy loại phân mua trên thị trường để tính số
lượng cụ thể. Thị trường hiện nay có phân đơn (1 nguyên tố
dinh dưỡng), phân hỗn hợp (2 nguyên tố dinh dưỡng trở lên)
và phân chuyên dùng (nhà sản xuất đă tính toán để người dân
đến thời điểm bón theo số lượng đă định sẳn để bón cho từng
loại cây trồng). Khi mua phân cần xem kỹ thành phần trên bao
b́ để biết số lượng dưỡng chất cần cung cấp.
Một số phân phổ biến trên thị trường hiện
nay:
- Phân Urê: Thông thường 46%, tức 100kg phân
(2 bao) chứa 46kg N nguyên chất.
- Phân Lân Văn Điển – Ninh B́nh: 15-17%, tức
100kg phân chứa 15-17kg P2O5 (lân)
nguyên chất.
- Phân Lân Super Phosphate Long Thành: Chứa
17-20kg P2O5 trong 100kg phân.
- Phân Clorur Kali: Thông thường chứa 60 K2O,
cũng có loại 30 K2O (cần tính toán kỹ, đôi khi dễ
nhầm lẫn v́ hàm lượng chỉ 50% phân 60 K2O).
- Phân hỗn hợp:
DAP: 18-46-0 : Trong 100kg phân (2 bao) chứa
18kg N và 46kg P2O5
NPK: 16-16-8 : Trong 100kg phân chứa 16kg N,
16kg P2O5 và 8kg K2O.
NPK: 20-20-15 : Trong 100kg phân chứa 20kg
N, 20kg P2O5 và 15kg K2O.
Theo quy ước ghi trên bao b́, số đầu tiên
thường là N, kế đến là P và K. Ngoài ra sẽ có một số trung
và vi lượng đi kèm theo.
Rất nhiều loại phân bón khác do nhiều hăng
sản xuất cũng áp dụng như trên.
Để đáp ứng công thức phân 90–100 N – 40-60
P2O5 – 30-40 K2O, nếu
sử dụng phân đơn ở vụ Đông Xuân:
* 90-100N, cần 200kg Urê chứa 92kg N, gia
giảm theo t́nh trạng cây.
* 40-60 P2O5 3 loại
phân trên. Nếu sử dụng Lân Văn Điển hoặc Ninh B́nh nên bón
lót (phân nung chảy - chậm tan), phân Supper có thể bón thúc
lần một và tránh sử dụng ở đất phèn.
* 30-40 K2O cần
50-70kg KCl 60%.
Sử dụng phân hỗn hợp: Tính phân hỗn hợp trước
và bổ sung phân đơn sau:
Ví dụ 1: Sử dụng DAP
100kg DAP (2 bao): Đă cung cấp đủ 46kg P2O5
theo yêu cầu, đạm cung cấp 18kg nguyên chất, theo công
thức cần bón 90N-18N sẽ cần bổ sung 72N.
Trong 100kg Urê đă có 46kg N, vậy nếu cần
72kg N th́ cần khoảng 150-160kg Urê và cần thêm 50-70kg
Clorur Kali.
Ví dụ 2: Sử dụng NPK 20-20-15
100kg NPK đáp ứng 20P2O5
và 15K2O, cần 200kg NPK đáp ứng 40P2O5
, 30K2O và 40N đảm bảo gần đủ lân và kali,
nhu cầu 90N, đă có 40N, phải bổ sung 90N-40N = 50N.
100kg Urê đă có 46N, cần 50N, tức cần khoảng
100-110kg Urê.
Các phân khác cũng tính tương tự như trên.
Đạm giúp cây tăng trưởng, đẻ nhánh, ra lá,
tăng chiều cao ... nên cần suốt thời kỳ sinh trưởng. Lân
giúp cây đẻ nhánh, ra rễ, thúc đẩy phân hóa đ̣ng, nên cần
nhiều ở giai đọan đầu. Kali giúp tăng khả năng chống chịu
sâu bệnh, đổ ngă, thời tiết khắc nghiệt, tăng khả năng tích
lũy chất khô gia tăng năng suất chất lượng lúa gạo.
Phân đạm có thể bón 3 đợt: 7-10 ngày sau sạ
(giai đoạn mạ), 18-25 ngày sau sạ (giai đoạn đẻ nhánh) và
đón đ̣ng. Phân lân nên bón sớm, bón lót hoặc thúc 1. Phân
kali không thể thiếu ở giai đọan đón đ̣ng.
Ngoài các phân đa lượng đă nêu trên có thể sử
dụng phân bón lá bổ sung hoặc bón nuôi hạt, nhưng cần thiết
tính toán thêm về hiệu quả kinh tế.
Chú ư, không bón thừa phân đạm vừa tốn tiền,
vừa dễ bị sâu bệnh, lớp đổ ngă giảm năng suất. Không bón lai
rai nhiều lần sẽ tăng chồi vô hiệu. Không bón lúc trời mưa
hoặc ruộng khô nứt. Không bón đạm khi lúa bị bệnh.
Các khuyến cáo trên chỉ mang tính chất tham
khảo, chủ ruộng dựa vào kinh nghiệm để quyết định cuối cùng. |