|
1. Thời vụ trồng
Đậu nành có thể trồng được quanh năm
nhưng với mỗi thời vụ canh tác khác nhau
sẽ có ảnh hưởng rơ rệt đến sự sinh
trưởng cây trồng, t́nh h́nh sâu bệnh,
năng suất, phẩm chất hạt, chi phí sản
xuất. Tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL), thời vụ canh tác thích hợp nhất
là Đông Xuân và Xuân Hè.
Đậu nành là cây ngắn
ngày, nên có thể bố trí vào các mô h́nh
luân canh, xen vụ để tăng ṿng quay của
đất, nâng giá trị kinh tế cho người sử
dụng đồng thời
hạn chế nguồn sâu bệnh
lưu tồn qua mùa vụ canh tác.
Vụ Đông Xuân: Lượng ánh sáng đầy
đủ , đậu nành trổ hoa sớm , thời gian
sinh trưởng ngắn , thuận lợi trong việc
thu hoạch và phơi hạt. Sâu bệnh phát
triển trong vụ này tương đối ít .Hạt thu
hoạch trong vụ này có phẩm chất tốt ,
nên có khả năng bảo quản được lâu .
Lưu ư trong vụ Đông Xuân: Nên trồng mật
độ dầy hơn, do thân lá phát triển hạn chế
hơn so với các vụ khác.
Vụ Xuân Hè: Đậu nành được trồng ở
những chân ruộng lúa Đông Xuân sớm, (trước đây, thường được trồng luân canh
với lúa mùa). Trong vụ này, nếu được
chăm sóc và đầu tư kỹ thuật đúng mức,
đậu nành sinh trưởng và phát triển tốt
hơn vụ Đông Xuân, năng suất cũng cao
hơn. Nhưng vụ này , sâu bệnh bộc phát
rất mạnh, nhất là các đối tượng như ḍi
đục thân ở đầu vụ và sâu đục trái ở cuối
vụ. Trong vụ này, gieo càng muộn, th́ mức
độ thiệt hại do ḍi đục thân càng gia
tăng. Lúc
thu hoạch sẽ gặp trở ngại do mưa, phẩm
chất hạt giảm , tỷ lệ hạt bị mốc và bệnh
hạt tím cao.
Vụ Hè Thu:
Thời gian chiếu sáng trong ngày dài ,
nên đậu nành trổ hoa muộn , thời gian
sinh trưởng kéo dài.
Lưu ư trong vụ Hè Thu:Trong vụ này,
đậu nành phát triển thân lá rất mạnh,
do đó mật độ trồng nên thưa hơn so với
các vụ khác trong năm.
Đầu vụ thường gặp hạn, nên lưu ư vấn đề
nước tưới. Cuối vụ , do mưa nhiều,
thường gặp khó khăn trong khâu phơi hạt
, hạt dễ bị mốc và bệnh hạt tím. Trong
vụ Hè Thu, đậu nành dễ bị đổ ngă và
phẩm chất hạt cũng kém hơn so với các vụ
khác trong năm.
Vụ Thu Đông:
Trong vụ này , mưa
thường xuất hiện nhiều và liên tục, cần
lưu ư các vấn đề chống úng cho cây.
2.
Chuẩn bị đất
Tại tỉnh An Giang, có 2 mô h́nh canh
tác cây đậu nành
a.
Mô h́nh chuyên canh màu: Có làm đất
b.
Mô h́nh luân canh: Không làm đất.
a.
Cách trồng có làm đất :
-
Cày đất lúc có ẩm độ vừa phải. Tránh
cày đất lúc c̣n quá ướt.
-
Trường hợp đất quá khô, phải chủ động
tưới nước và chờ đến khi đất có đủ độ ẩm
thích hợp th́ mới cày.
- Tránh làm đất quá tơi, khi gặp mưa, dễ
bị đóng váng, cản trở việc hút nước,
dinh dưỡng của cây, cây sinh trưởng yếu, các nốt sần ít và nhỏ. Đường kính đất
cày vừa phải: 4 – 5cm.
*
Ưu điểm việc làm đất:
-
Diệt cỏ dại.
-
Nâng cao độ tơi xốp của tầng đất mặt,
tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống rễ
phát triển mạnh trong giai đoạn đầu.
-
Hạn chế việc bốc phèn (x́ phèn) lên
lớp đất mặt do mao dẫn.
*
Nhược điểm:
-
Tốn thời gian làm đất, do đó kéo dài
thời vụ trồng đậu nành. Có thể ảnh
hưởng đến cây trồng vụ sau.
-
Tốn chi phí làm đất ,tưới nước (v́ muốn
làm đất, phải để đất khô, sau khi gieo, phải tưới nhiều nước) dẫn đến lợi
nhuận bị giảm một phần .
Do
đó việc áp dụng làm đất chỉ nên áp dụng
đối với những trường hợp đất quá khô,
nhiều cỏ dại.
b.Cách trồng không làm đất:
Cách trồng này đă có từ thời xa xưa. Ở
An Giang, đă áp dụng từ lâu với mô
h́nh lúa mùa nổi luân canh màu.
Trên chân đất ruộng, tiến hành gieo đậu
nành sau khi thu hoạch lúa, khi đất c̣n
độ ẩm thích hợp. Có thể kết hợp phủ rơm
để giữ ẩm .
Trường hợp đất quá khô, có thể tưới
tràn, sau đó tháo nước ra , ngày hôm
sau tỉa hạt.
* Ưu điểm :
- Tranh thủ thời vụ , v́
không phải chờ đợi thời gian làm đất .
- Giảm được chi phí trong
khâu làm đất. Do đó hiệu quả kinh tế
hơn .
- Tận dụng được độ ẩm
trong đất sau khi thu hoạch lúa, do đó
tiết giảm chi phí tưới nước.
*
Nhược điểm :
- Sâu bệnh phát triển nhiều hơn
- Gặp trở ngại trong việc
ứng dụng phân bón, nhất là các loại
phân đ̣i hỏi phải trộn hoặc lấp xuống
đất như phân lân, phân hữu cơ, vôi ,
....
Ngoài ra, một số nơi c̣n
áp dụng biện pháp làm đất theo hàng,
qua các thí nghiệm của Trường Đại học
Cần Thơ, cho thấy , không có sự khác
biệt về năng suất đối với
2 biện pháp kỹ
thuật làm đất trên. Tuy nhiên, biện
pháp không làm đất cho hiệu quả kinh tế
cao nhất.
3.
Mật độ trồng
-
Áp dụng tỉa, lượng giống 70 - 80kg/ha.
Nếu sạ, lượng giống khoảng 100 -
120kg/ha
-
Mật độ trồng: Tỉa theo khoảng cách 40 x
10cm hay 30 x 20cm. mỗi hốc 3 cây (50
cây/m2) sau đó chừa lại 2
cây/lỗ. Mùa mưa trồng dầy hơn mùa khô :
30 x 15 cm; Mỗi hốc 3 cây (66 cây/m2
) sau đó chừa lại 2 cây/lỗ.
-
Gieo độ sâu: 2,5cm
Tùy thuộc vào giống, thời vụ trồng, đất
đai, tŕnh độ thâm canh mà có mật độ
trồng khác nhau.
4.
Phương pháp gieo:
Trước khi gieo, phơi lại hạt giống
một nắng nhẹ trên nong, nia, cót, không
được phơi trên nền xi măng, sân gạch khi
nắng gắt.
Gieo hạt khi đất đủ ẩm, trước khi gieo
phải bón phân vào rănh hoặc hốc, gieo
hạt xong lấp một lớp đất tơi xốp
dầy 2-3cm.
Đối với đậu nành trên đất 2 vụ lúa:
Trước khi gieo hạt cho nước vào để làm
cho đất đủ ẩm, sau đó rút sạch nước mặt,
vạch thành hàng hay dùng que ấn thành
hàng cách nhau 25-30cm để gieo hạt.
Trên cùng một hàng gieo cách nhau 7-8
cm/1hạt, hoặc theo khóm cách nhau
13-15cm, mỗi khóm 2-3 hạt, lấp hạt bằng
đất trộn NPK hoặc phân chuồng hoai mục.
5.
Vấn đề bón đạm cho đậu nành
Cùng thuộc nhóm cây họ đậu, đậu nành c̣n
có khả năng cố định đạm từ khí trời. Khả
năng này nhờ vi khuẩn
Rhizobium
jabonicum, gọi là vi khuẩn cố định đạm.
Vi khuẩn này sống trong điều kiện đất
không bị ngập và đất phải thoáng khí,
giúp tạo nốt sần trong rễ cây họ đậu.
Nhờ hút chất đạm từ không khí, khi nốt
sần trưởng thành (lúc cắt ngang có màu
nâu đỏ) nó sẽ cung cấp chất đạm lại cho
cây trồng sử dụng. Do đó, việc bón quá
nhiều lượng phân đạm cho cây đậu nành là
không cần thiết.
6.
Bón phân
Đối với cây đậu nành, do có thể cố định
được lượng đạm khí trời (Vi khuẩn
Rhizobium japonicum) để nuôi cây, v́
vậy cần chú ư đến việc bón thêm phân lân
và Kali để cân đối NPK .
Phân Đạm nên bón vào đầu của
giai đoạn tăng trưởng, để kích thích bộ
lá phát triển trước khi vi khuẩn nốt sần
ở rễ lấy được đạm từ khí quyển để nuôi
cây .
NHU CẦU DINH DƯỠNG
Cứ
1 tấn hạt , cây đậu nành đă lấy đi lượng
dinh dưỡng từ đất :
(Đơn vị tính: kg/ha) |